Tháng Nhân Quyền, lắng nghe nhà nước Việt cộng bàn về Nhân Quyền… Tác Giả: Từ Liên.

Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, không có một bản nào của Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền được dịch lại hoàn chỉnh, được lưu hành chính thức, hoặc được phổ biến rộng rãi tới toàn dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam… Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế cũng không được đưa vào chương trình giảng dạy của bất cứ một cấp bậc nào trong hệ thống giáo dục cộng sản.

Trước tiên, chúng ta nói lại một chút về lịch sử ngày Nhân Quyền.

Ngày 10/12/1948, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã được Liên Hợp Quốc công bố lần đầu tiên trên thế giới. Phu nhân Eleanor Roosevelt, nguyên Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ khi đó, đã đại diện Liên Hợp Quốc tuyên đọc bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền lịch sử tại Paris, Pháp. Ngày 10 tháng 12, cũng là ngày mất của Alfred Nobel, người khai sinh ra giải Nobel.

Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ Eleanor Roosevelt đại diện Liên Hợp Quốc tuyên đọc bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền lịch sử tại Paris, Pháp.
Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ Eleanor Roosevelt đại diện Liên Hợp Quốc tuyên đọc bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền lịch sử tại Paris, Pháp.

Tháng 12 năm 1950, Liên Hợp Quốc chính thức công nhận ngày 10 tháng 12 hằng năm là “Ngày Nhân Quyền” ( Human Rights Day ).

Vào ngày này, Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế sẽ đưa ra những báo cáo mới về nhân quyền trên toàn thế giới, Nghị Viện Châu Âu tổ chức lễ trao Giải Thưởng Sakharov ( tên đầy đủ là Giải Thưởng Tự Do Tư Tưởng Sakharov, hoặc Giải Thưởng Nhân Quyền Của Liên Minh Âu Châu ), lấy theo tên của khoa học gia, nhà bất đồng chính kiến Liên Xô Andrei Dimitrijevic Sakharov, người được trao tặng giải Nobel Hòa Bình vào năm 1975.

Ngoài ra, tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới cũng chọn ngày này để trao Giải Thưởng Nhân Quyền của họ.

Tại Oslo ( Na Uy ), vào ngày này hàng năm, người ta tổ chức lễ trao Giải Thưởng Nobel Hòa Bình.

Bản Tuyên Ngôn này cũng là nền tảng cho Bộ Luật Nhân Quyền Quốc Tế, bao gồm hai công ước cơ bản về quyền con người là Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự Và Chính Trị và Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Kinh Tế, Xã Hội Và Văn Hóa.

Tại Miền Nam Việt Nam, Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã được dịch ra và phát hành vào năm 1965, bởi Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa.

Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, không có một bản nào của Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền được dịch lại hoàn chỉnh, được lưu hành chính thức, hoặc được phổ biến rộng rãi tới toàn dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam… Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế cũng không được đưa vào chương trình giảng dạy của bất cứ một cấp bậc nào trong hệ thống giáo dục cộng sản.

Có thể đây chính là một trong những lý do mà hầu hết người Việt Nam, kể cả những thế hệ trẻ được sanh ra trong thời kỳ hòa bình, hội nhập và toàn cầu hóa, vốn đã rất mù mờ về những quyền lợi của các công dân của một quốc gia tự do, được quy định trong các bộ luật hiện hành của nhà nước cộng sản, lại càng thiếu kiến thức về những quyền cơ bản của con người, vốn đang được bảo vệ bởi Công Ước Nhân Quyền Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc.

Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này gồm có 30 điều khoản, quy định về các quyền của con người, với tư cách là một cá nhân độc lập, đang sống ở bất kỳ nơi nào trên địa cầu.

Trong lời nói đầu của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Liên Hiệp Quốc phát biểu:

Với nhận thức rằng: Việc thừa nhận nhân phẩm cố hữu, thừa nhận những quyền bình đẳng và bất khả xâm phạm của con người trong đại gia đình thế giới sẽ đặt nền tảng cho Tự Do, Công Lý, và Hòa Bình Thế Giới.

Xét rằng: Vì không biết rõ và khinh miệt nhân quyền, nên loài người đã có những hành động dã man trái với lương tâm của nhân loại, và xét rằng sự xây đắp một thế giới trong đó loài người sẽ được tự do ngôn luận và tín ngưỡng, thoát khỏi sợ hãi và lầm than, đã được công bố như là một nguyện vọng cao cả của con người…

Xét rằng: Điều tối cần là Nhân quyền phải được pháp luật che chở để tránh cho loài người không phải dùng đến những biện pháp cuối cùng là nổi loạn để chống lại tàn bạo và áp bức.

Nguồn: https://www.un.org/en/udhrbook/pdf/udhr_booklet_en_web.pdf

Công bằng mà nói, so sánh với nhiều nội dung đang được giảng dạy trong chương trình học tập ở các cấp học ở Việt Nam, bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Về Nhân Quyền này có nội dung vô cùng đơn giản, ngắn gọn và dễ hiểu. Thêm vào đó, bản tuyên ngôn cũng sử dụng nhiều từ ngữ dễ hiểu hơn nhiều so với những từ ngữ được trình bày trong sách giáo khoa “Giáo dục công dân”, “Bác Hồ và những bài học đạo đức dành cho học sinh” dành cho học sinh phổ thông của Việt Nam, và giáo trình Triết học Mác–Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản, Chủ nghĩa cộng sản khoa học, dành cho sinh viên Việt Nam… Vậy mà không biết vì sao nó lại không được đưa vào giảng dạy… Phải chăng các giáo sư, tiến sĩ Việt Nam người ta đạt tới trình độ xuất sắc quá trời rồi người ta không thể dạy được những thứ đơn giản mà cả thế giới tiến bộ phải học nữa.

Và đối với đại đa số dân Việt Nam, học Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế cũng chẳng để làm gì, vì dù gì các xứ sở cộng sản vẫn có tiếng là các quốc gia vô pháp, vô Thiên ( không luật pháp, không tôn giáo ), các lãnh đạo Đảng diễn giải về nhân quyền cũng như xét xử dân chúng theo luật của riêng họ.

Vậy nên năm 2021, để đánh dấu năm đầu tiên của nhiệm kỳ thủ tướng mới, Việt Nam không chỉ kỷ niệm Ngày Quốc Tế Về Nhân Quyền mà còn dành nguyên một tháng để kỷ niệm Nhân Quyền, với hàng loạt các hoạt động thể hiện tình yêu thương, cảm thông của các lãnh đạo đảng, chính phủ, nhà nước, với nỗi khổ của dân xứ Đông Lào.

Để chuẩn bị cho Tháng Nhân Quyền, vị tân thủ tướng của Việt Nam nhân chuyến công du Châu Âu lần đầu vào tháng 11/2021 đã hùng hồn phát biểu trước cộng đồng của mình và người dân quốc tế:

Tôi sẵn sàng đối thoại với bất cứ ai trên thế giới này về vấn đề nhân quyền. Nhân quyền lớn nhất là lo cơm ăn áo mặc cho 100 triệu dân, không để ai thiếu ăn thiếu mặc, khi khó khăn không bỏ ai lại phía sau.

Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/thu-tuong-chi-can-la-nguoi-viet-nam-o-bat-cu-dau-thay-nhau-cung-am-cung-788420.html

Vị thủ tướng xuất thân công an này, hoặc là chưa từng biết trên đời này có tồn tại bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, hoặc là nhận thức của vị này có hạn, nên từ chỗ ba chục điều khoản mà bao nhiêu bộ óc vĩ đại của thế giới chiêm nghiệm trong bao nhiêu năm mới đúc kết ra được trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, thì qua lời của ông ta, chỉ còn giữ lại một điều nhỏ nhất, ở thang nhu cầu bản năng nhất của con người: “cơm ăn áo mặc”… Mà ngay cả ở thang cuối cùng này, vị này cũng cắt bớt gần hết: Nhu cầu cơ bản của con người ở tầng thấp nhất của tháp nhu cầu Maslow thì ngoài cơm ăn áo mặc, con người còn có nhu cầu về chỗ ở, có nhu cầu được hít thở không khí trong lành, được nghỉ ngơi đầy đủ để tái tạo sức lao động.

Vậy là phát biểu của vị có hai câu, câu thứ hai có hai ý: Ý thứ nhất thì vị ăn bớt, xuyên tạc hoàn toàn ý nghĩa của từ Nhân Quyền, ý thứ hai thì vị nói láo, mà nói láo không ngượng miệng: “…khi khó khăn không bỏ ai lại phía sau…”. Bằng chứng là trong mấy đợt bùng dịch COVID ở xứ Việt Nam, dân tứ xứ phải bỏ chạy khỏi mấy thành phố lớn của Việt Nam như bầy gà vịt đã bị cắt tiết, nhưng vẫn thu hết sức tàn để chạy trốn, còn các vị thì cho công an, dân phòng chạy theo, dồn những người nào không còn tiết vào trong chuồng để họ tự chết trong chuồng, dân nào còn tiết thì các vị để riêng để tiếp tục “cắt tiết” họ bằng các loại kits xét nghiệm, các loại thuốc chữa COVID, các khu điều trị COVID đông đúc và mất vệ sinh, các loại thuế không nhìn thấy bằng mắt thường, các loại hàng hóa bán trong các siêu thị được chỉ định bán hàng độc quyền mùa dịch, các loại đóng góp khác nhau cho cái thứ gọi là “Quỹ phòng chống COVID”…

Làm những hành động này, nhà nước cộng sản Việt Nam làm như không biết rằng họ đã vi phạm tuyệt đại đa số các điều khoản trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Mà sau khi vắt kiệt sinh lực của đám dân còn thoi thóp này, thì các vị quan chức cộng sản tuyên bố tỉnh bơ “Lấy sức dân nuôi sức dân”, nhà nước không có tiền, đảng không có tiền, nên đảng hay nhà nước cũng không lo cho dân được, vậy là huề cả làng, Tuyên Ngôn Nhân Quyền mà ông thủ tướng khoe mẽ với toàn thế giới bị vứt vô sọt rác như một mớ giấy lộn.

Ông thủ tướng tuy có bằng Tiến sĩ chính trị Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng xem ra não bộ cũng chẳng hơn một con robot bao nhiêu, một con robot được lập trình tốt chắc chắn có thể nói hay hơn vị này. Hẳn là cũng do hiểu biết về Nhân Quyền, Nhân Sinh của ông thủ tướng chỉ có vậy thôi, nên chắc cũng chẳng có người hiểu biết nào lại chịu hạ mình mà tranh luận với ông ta, nên ông mới hiên ngang làm thùng rỗng kêu to mà hùng hồn tuyên bố “Tôi sẵn sàng đối thoại với bất cứ ai trên thế giới này về vấn đề nhân quyền”.

Thủ tướng của một quốc gia mà dũng cảm cỡ đó thì dân chúng dám đòi hỏi gì nữa.

Mở đầu Tháng Nhân Quyền, cộng sản Việt Nam tiếp tục tôn vinh quyền con người bằng cách thúc ép người dân tiếp tục test COVID thường xuyên bằng các loại test kits không rõ nguồn gốc, tiếp tục bắt dân chích các loại vaccines nhập về từ Trung Quốc, dẫn tới cái chết của tức tưởi của những công nhân còn rất trẻ tuổi và hoàn toàn khỏe mạnh ở một tỉnh nọ. Nhiều học sinh bị buộc phải chích vaccine dẫn tới cái chết oan ức của những trẻ em còn chưa bước qua tuổi trưởng thành ở các tỉnh thành khác nhau…

Cũng trong Tháng Nhân Quyền, để tôn vinh sự hy sinh lớn lao của người dân Thủ Thiêm trong mấy chục năm qua phải lang thang chỗ này chỗ nọ do mất nhà cửa, nên các quan chức cộng sản tổ chức đấu giá đất đai ở Thủ Thiêm, nơi chúng đã tìm mọi cách để ép uổng, đuổi dân đi, cướp đất của họ, đền bù họ với mức rẻ mạt, mỗi mét vuông đất chỗ rẻ nhất có giá chỉ bằng một ổ bánh mỳ cho tới cao nhất bằng chừng 30-50 ký gạo, tùy loại. Rồi giờ, cũng bè lũ quan chức này bắt tay nhau phù phép mỗi ổ bánh mỳ hoặc vài chục ký gạo đó lên bằng giá của một căn chung cư rộng chừng 50m2 ở các quận ngoài trung tâm thành phố.

2,4–2,5 tỷ Việt Nam đồng ( tương đương 100,000 đô la ) một mét vuông đất ở Thủ Thiêm, là một con số đấu giá kỷ lục ở một quốc gia có thu nhập đầu người chỉ hơn 2,000 USD/năm, với thu nhập của công chức nhà nước phổ biến ở mức 300-400 USD/tháng. So sánh với lượng kiều hối đổ về Việt Nam năm 2021, tính đến thời điểm này được cho là cao kỷ lục trong lịch sử kiều hối Việt Nam là 18 tỷ đô la, thì tính ra cũng chỉ mua được 18,000m2 đất ở Thủ Thiêm, chưa được 2 mẫu Nam Bộ. Phù phép giỏi cỡ này thì thế giới cũng khó vượt qua cộng sản được.

Cao điểm của Tháng Nhân Quyền, để thể hiện những hiểu biết và khát vọng to lớn về nhân quyền của Việt Nam trong mắt cộng đồng thế giới, cộng sản Việt Nam mang hàng loạt các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam ra để xét xử và kết án vượt khung. Bắt đầu từ Phạm Đoan Trang, ngày 14/12/2021, Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Phương, ngày 15/12/2021, Đỗ Nam Trung, ngày 16/12/2021… Họ xử và kết án vội vã như là nếu để qua tới Giáng Sinh và năm mới thì hết Tháng Nhân Quyền, họ không còn cơ hội để làm lễ kỷ niệm theo cách của họ vậy.

Đây không phải là phiên tòa đầu tiên nhà nước cộng sản kết án những nhà hoạt động nhân quyền này. Không riêng những nhà hoạt động Nhân Quyền, những người dân bình thường của xứ cộng sản thường xuyên bị kết án trên mặt báo và các phương tiện truyền thông trước khi các tòa án kết án họ dựa trên những bằng chứng thuyết phục, rõ ràng.

Ở đất nước cộng sản vô pháp, vô thiên, nhà báo, phát thanh viên, cảnh sát, công an, cán bộ xã, phường đều có quyền “kết tội”, gán tội cho bất kỳ người nào rơi vào tầm ngắm của họ, mà không cần dựa trên một tang chứng, vật chứng nào cả. Bằng chứng là bất cứ người nào nói điều gì trái với những gì quan, chức cộng sản nói, đều bị kết án là “Phản Động” ngay tức khắc không phải bởi tòa án, mà bởi những bồi báo hoặc phát thanh viên trước tiên.

Những cách thức kết tội này, bao gồm cả những phiên tòa, xét theo Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế, cộng sản đã vi phạm từ Điều 1 tới Điều 11, cộng thêm Điều 19 và 20 về “Quyền tự do bày tỏ ý kiến, tìm kiếm, thu nhận và truyền bá những quan niệm và ý tưởng qua mọi biên giới, phương tiện mà không sợ bị ngăn cản”, và “Quyền tự do hội họp, lập hội”.

Chưa hết, Tháng Nhân Quyền của Việt Nam năm nay cũng chứng kiến tình yêu thương vô bờ bến các lãnh tụ đảng, nhà nước đối với nông dân, “giai cấp tiên phong”, tượng trưng bằng một cây búa liềm trên cờ đảng, và cũng là tầng lớp cùng khổ ở Việt Nam, với việc hàng trăm xe nông sản từ miền Tây và miền Trung bị kẹt tại cửa khẩu ở biên giới với Trung Cộng do Trung Cộng đơn phương thay đổi chính sách thông quan của họ. Sản phẩm bị hư hại, phải đổ bỏ, nông dân Việt Nam cầm chắc nguy cơ trắng tay, mắc nợ ngân hàng, lo tới mất ăn mất ngủ, kêu khổ thấu trời… Tất cả quan chức cộng sản đều làm thinh.

Ở chiều ngược lại, hàng từ Trung Cộng vẫn ào ào chuyển qua cửa khẩu đi vào lãnh thổ Việt Nam, phủ kín thị trường Việt Nam từ Bắc tới Nam. Lãnh đạo Việt cộng giải thích họ thương người dân Việt Nam phải mua hàng trong nước với giá cao nên họ tạo điều kiện cho dân Việt Nam được ăn uống hàng rẻ và độc. Dân Việt Nam có bệnh thì yên tâm, họ sẽ nhập thuốc từ Trung Quốc qua cho dân Việt Nam xài tiếp. Bệnh tật cỡ nào thì quan chức Việt cộng cũng có cách biến nó thành một cơ hội để kiếm tiền, cũng như họ đã làm trong đại dịch COVID vừa rồi vậy.

Nhiều người Việt Nam đọc tới đây cũng sẽ thắc mắc: Điều này thì có liên quan gì tới Nhân Quyền?

Từ Điều 20 đến Điều 25 của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền có thể sẽ giải thích được mối liên hệ giữa Nhân Quyền và việc Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo điều kiện sống cơ bản và an sinh xã hội của những con người bình thường nhất trên địa cầu như thế nào.

Cuối cùng, để an ủi người dân đang đau khổ vì mất người thân, mất việc, mất thu nhập, con cái họ mất cơ hội học hành, trong suốt bốn đợt bệnh dịch càn qua, chính phủ Việt cộng thêm vào trong chuỗi hoạt động kỷ niệm Tháng Nhân Quyền của mình Vụ bắt giữ để điều tra giám đốc công ty Việt Á, người được cho là đã bắt tay với Bộ Khoa Học Công Nghệ, Bộ Y Tế, Bộ Quốc Phòng, và các quan chức Việt cộng, để sản xuất test kits chưa được Tổ Chức Y Tế Thế Giới cấp phép lưu hành, và thổi giá test kit gấp từ 8-10 lần so với nhiều loại test kits đạt chuẩn của thế giới, đình đám trên mặt báo trong mấy ngày qua.

Quan sát phản ứng của người dân Việt Nam nói chung, thì hình như không thấy có mấy người ngạc nhiên trước tin tức này. Có vẻ như họ đã quen với những “phần thưởng” thế này tới độ chỉ còn biết giữ im lặng để theo dõi các vị quan chức cộng sản cắn xé nhau cỡ nào chỉ vì số tiền được ăn chia không đồng đều. Nhiều người cho rằng đây chỉ là một màn hài kịch được bổ sung nhân dịp Tháng Nhân Quyền cho nó có thêm màu sắc sinh động.

Bao nhiêu năm qua, mấy vị quan đó không bóc lột dân theo cách này thì họ cũng nghĩ ra cách khác thôi, dường như tất cả trí tuệ của nhà nước cộng sản chỉ dùng vào có nhiêu đó việc. Chừng nào người dân còn được thoi thóp thở thì phần lớn họ vẫn có thể thản nhiên đứng quan sát mọi chuyện từ năm này qua năm khác.

Có thể rất nhiều người cũng không nhìn thấy rằng đây không phải chỉ là câu chuyện thổi giá test kit để trục lợi bất chính. Đây còn là một tội ác khủng khiếp của tập đoàn quan chức cộng sản Việt Nam.

Trước tiên là những test kit này không đủ tiêu chuẩn để lưu thông trên thị trường, do đó, người ta có quyền nghi ngờ rằng kết quả của nó cho ra không hề chính xác. Có nghĩa là những kết quả này có thể làm sai lệch toàn bộ bộ dữ liệu quốc gia về tỷ lệ người nhiễm bệnh, mắc bệnh. Nó cũng có thể là nguyên nhân chính khiến cho nhiều người bị quy kết nhiễm bệnh sai, vì test kit cho kết quả không chính xác, dẫn tới việc họ bị ép vào trong các khu cách ly, lây nhiễm chéo rồi cuối cùng là tử vong do không được chăm sóc y tế đầy đủ. Tính tới nay, con số chưa đầy đủ thống kê có gần 30,000 người ra đi vì COVID.

Vậy nên câu chuyện test kit, nhìn từ mọi góc độ, nó cũng còn là câu chuyện Nhân Quyền của con người…

Không chỉ người Việt ở trong nước được nhà nước cộng sản hoan hỉ kỷ niệm Tháng Nhân Quyền, người Việt đi lao động hợp pháp hoặc phi pháp ở nước ngoài cũng được quan tâm không kém cạnh. Ngay từ tháng 11/2021, nhiều quốc gia Châu Âu đã bày tỏ sự phẫn nộ với việc hàng trăm lao động người Việt đang phải lao động ở một công trường xây dựng của một công ty Trung cộng tại Serbia, trong những điều kiện vô cùng tồi tệ, khốc liệt của mùa Đông ở Châu Âu. Ngày 16 tháng 12, Nghị Viện Châu Âu đã thông qua một nghị quyết bày tỏ quan ngại về cáo buộc lao động cưỡng bức khoảng 500 người Việt Nam và mong đợi chính phủ Việt Nam sẽ làm gì đó để bảo vệ công dân của họ. Chính phủ cộng sản hoàn toàn câm lặng, báo chí và phương tiện truyền thông Việt Nam hoàn toàn nín thinh… Tuyên Ngôn Nhân Quyền không tồn tại trong não bộ của họ.

Nguồn: https://amp.theguardian.com/global-development/2021/dec/25/revealed-the-secret-forced-labour-migration-route-from-vietnam-to-the-uk

Trong thế giới 4.0 như hiện nay, người ta thường nói chỉ cần một cái click chuột, người ta sẽ nhìn thấy cả thế giới xung quanh nếu muốn. Theo thống kê, Việt Nam là quốc gia có số lượng người sử dụng mạng xã hội vào top cao trên thế giới. Vậy mà phần đông những cư dân mạng đó, những vấn đề liên quan gần nhất tới quyền làm người của bản thân mình, của con cái mình thì họ hầu như thờ ơ. Người Việt Nam quan tâm tới các cuộc thi hoa hậu, tới bóng đá, tới những nghi lễ thần bí siêu nhiên, tới những nhân vật ngày đêm livestream chỉ nhằm mục đích khai thác, bới móc chuyện của người nọ, người kia mà không biết mục đích cuối cùng của họ là gì, chỉ thấy họ dẫn dắt hàng triệu con người đi theo họ một cách vô định như những con rối giản đơn.

Quan sát phản ứng của nhiều người Việt Nam trước những bất công của xã hội, trước những nỗi đau của đồng loại, trước những nguy cơ của con cháu họ trong tương lai, người ta có cảm giác như con đường nô lệ vẫn còn tiếp tục trải dài phía trước dân tộc này.

Nhân Tháng Nhân Quyền, ôn lại Tuyên Ngôn Quốc Tế Về Nhân Quyền, và ngẫm về những gì nhà nước cộng sản cũng như người dân Việt Nam đang diễn giải và đang thực thi về Nhân Quyền…

Bao giờ Việt Nam mới thực sự có Nhân Quyền? Bao giờ người Việt Nam mới có ý thức về các quyền của mình như là một công dân tự do, độc lập, và được toàn quyền quyết định cuộc sống của riêng mình… nếu như đến Tuyên Ngôn Nhân Quyền họ cũng không muốn đọc, không muốn hiểu, và không muốn chung tay hành động để biến nó thành hiện thực…?

Bản Tuyên Ngôn gồm có 30 điều xin tạm tóm tắt lại thành những điểm chính sau:

Điều 1-2-3-4: Mọi người sinh ra đều Tự Do, Bình Đẳng, về phẩm giá và quyền lợi, được hưởng mọi quyền hạn và mọi Tự Do ghi trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế.

Điều 5: Không một người nào bị hành hạ, tra tấn, bị đối xử hay bị trừng phạt một cách vô nhân đạo, làm hạ phẩm cách con người.

Điều 6-7-8-9. Mọi người bình đẳng trước pháp luật, được nhìn nhận là đủ nhân cách trước pháp luật, và được pháp luật bảo vệ. Không một người nào bị bắt giam hay lưu đày vô cớ.

Điều 10-11: Vi phạm của các cá nhân phải được xử công bằng dựa trên pháp luật. Không một người nào bị buộc tội cho đến khi tòa án có đủ bằng chứng về hành vi phạm tội.

Điều 12–13-14-16: Quyền tự do di chuyển và cư ngụ bất cứ nơi nào trên đất nước họ, không ai được phép xúc phạm đời tư, nơi cư ngụ, thư từ riêng, danh dự và tên tuổi. Quyền Tự Do rời bỏ hoặc trở về xứ sở của mình, quyền tìm nơi trú ẩn và được những nước khác cho trú ẩn khi bị ngược đãi. Quyền tự do thay đổi quốc tịch. Quyền tự do kết hôn và lập gia đình.

Điều 17: Quyền tư hữu tài sản, không ai có quyền tước tài sản của họ.

Điều 18: Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng.

Điều 19-20: Quyền tự do bày tỏ ý kiến, tìm kiếm, thu nhận và truyền bá những quan niệm và ý tưởng mà không sợ bị ngăn cản. Quyền tự do hội họp, lập hội.

Điều 21: Quyền tự do tham dự vào chính quyền. Chính phủ phải do dân bầu chọn dựa trên việc bỏ phiếu định kỳ.

Điều 22: Quyền được hưởng an sinh xã hội, quyền lợi kinh tế, xã hội và văn hóa cần thiết cho sự phát triển Nhân Phẩm và nhân cách cá nhân.

Điều 23-24: Quyền tự do lựa chọn công việc, quyền hưởng mức lương để đảm bảo đời sống gia đình để sống xứng đáng với phẩm giá con người, đảm bảo sức khỏe và hạnh phúc, nếu không thì phải có các phương tiện bảo trợ xã hội đảm bảo được điều đó.

Điều 25: Quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc khi về về già, phụ nữ sinh con và trẻ nhỏ phải được xã hội che chở.

Điều 26: Quyền hưởng giáo dục nhằm phát triển nhân cách con người và củng cố tinh thần tôn trọng nhân quyền và tự do căn bản của những người khác. Giáo dục phải hướng tới chỗ miễn phí, ít nhất là tiểu học và căn bản.

Điều 27: Quyền tham dự vào đời sống văn hóa và được bảo vệ tác quyền.

Điều 28: Mọi người điều có quyền hưởng một nền trật tự trong phạm vi Xã Hội và Quốc Tế để những quyền Tự Do đã kể trong Bản Tuyên Ngôn này có thể thực hiện được một cách triệt để.

Điều 29: Mọi người có bổn phận với xã hội, phải tuân theo những giới hạn do luật pháp ấn định. Nhưng giới hạn này chỉ có mục đích bảo vệ sự nhìn nhận và trân trọng những đòi hỏi của luân lý, trật tự công cộng và hạnh phúc của toàn thể trong xã hội dân chủ.

Điều 30: Không được giải thích những quyền này trái với tinh thần bảo vệ con người của Liên Hiệp Quốc.

Tác Giả: Từ Liên.

22/12/2021.

“Cư An Tư Nguy”: người Việt Nam chưa được quyền “Tu”!

“Đời cha ăn mặn, đời con khát nước” — chúng ta bất lực chính trị, con cái chúng ta sinh ra mang một núi nợ trên lưng.

Gần 10 ( mười ) thập niên qua, Việt Nam luôn luôn trong ở trạng thái “Nguy”, chưa bao giờ được “An”.

Chúng ta phó mặc chính trị, xã hội của chúng ta cho một lũ vô đạo đức, vô nhân cách, vô học, vô kiến thức, vô nhân v.v…

Hậu quả là ngày hôm nay, năm 2021, cái chết, cái nghèo, cái đói, cướp giật, trộm cắp v.v… luôn luôn bủa vây đời sống của thường dân Việt Nam.

— Con nít Việt Nam vừa được sinh ra đã phải gánh trên lưng một núi nợ hơn hai ngàn đô la Mỹ ( $AUD 2,000.00 )!

Cái “An” mà người Việt Nam tưởng mình có, chỉ là cái “An” được xây trên cát: cái “An” không được luật pháp của một thiết chế tam quyền bảo vệ!

Nếu chúng ta cứ tự “phê” tự “lắc” với Phật ( của cộng phỉ ), với Chúa v.v… thì chúng ta đẩy cái “Nguy” của xã hội hiện tại xuống đời con cháu của chúng ta mà thôi!

Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ được cường liệt như ngày hôm nay, trước hết là nhờ tinh thần đầy trách nhiệm của các Thượng Phụ Lập Quốc… Thể hiện rõ nhất qua cụ John Adams, Tổng Thống Thứ Nhì, nhiệm kỳ 1797-1801:

Anh có trách nhiệm phải học môn khoa học chính quyền, bộ môn quan trọng nhất trong tất cả các môn khoa học; anh phải đặt việc học nghệ thuật lập pháp và nghệ thuật quản lý cũng như nghệ thuật thương lượng lên hàng tối ưu tiên, loại bỏ, trên một phương diện nào đó, tất cả các môn nghệ thuật khác. Anh phải học chính trị và chiến thuật chiến tranh, để con cái của chúng ta có quyền tự do được học các môn toán cũng như môn triết. Con cái của chúng ta nên học các môn toán cũng như môn triết, địa lý, bác vật và kiến trúc hàng hải, ngành hàng hải, thương mại và nông nghiệp để cho con cái của chúng có quyền được học hội họa, thơ văn, nhạc, kiến trúc, điêu khắc, dệt vải lẫn gốm sứ.

Nguyên văn tiếng Anh:

The science of government it is my duty to study, more than all other sciences; the arts of legislation and administration and negotiation ought to take the place of, indeed exclude, in a manner, all other arts. I must study politics and war, that our sons may have liberty to study mathematics and philosophy. Our sons ought to study mathematics and philosophy, geography, natural history and naval architecture, navigation, commerce and agriculture in order to give their children a right to study painting, poetry, music, architecture, statuary, tapestry and porcelain.

Source: https://www.goodreads.com/quotes/42294-the-science-of-government-it-is-my-duty-to-study

Trích từ John Adams, “Letters of John Adams, Addressed to His Wife” — “Các Tâm Thư Của John Adams, Gửi Phu Nhân Của Ông”.

Cụ John Adams -- Thượng Phụ Lập Quốc, Tổng Thứ Nhì của Hoa Kỳ: năm 1797 đến 1801. Cụ John Adams ngồi bên trái.
Cụ John Adams — Thượng Phụ Lập Quốc, Tổng Thứ Nhì của Hoa Kỳ: năm 1797 đến 1801.

❀❀❀

“Cư An Tư Nguy”: “dù đang sống yên bình, vẫn phải luôn luôn chuẩn bị cho những ngày tao loạn can qua trong tương lai”.

02/12/2021.

Kẻ Nào Phá Tanh Banh “y” và “i”?

Nam+ Nguyễn Thị Bình phá tanh banh “y” và “i”!

Trong buổi nói chuyện ngày 14, Tháng Mười Một, 2021 với kênh YouTube Leftard ở Mỹ, học giả đất Phù Tang Đỗ Thông Minh cho biết, khoảng 30 ( ba mươi ) năm trước Nam Kỳ Nguyễn Thị Bình ra “nghị định” đổi “y” thành “i” — khi:

  1. Đứng một mình — thí dụ: “í kiến”.
  2. Đứng sau một phụ âm — thí dụ: “”.
  3. Còn trong trường hợp đứng sau một nguyên âm vẫn giữ nguyên. Thí dụ: “tai”, “tay”, “thúy”.

Ông không cho biết tại sao bà ta lại ra một cái “nghị định” như vậy.

❀❀❀

Trong các sách do Văn Nghệ ở Hoa Kỳ xuất bản, học giả Nguyễn Hiến Lê cũng sử dụng “i” theo nghị định của bà Bình! Tôi không nhớ là đã được đọc giải thích của cụ.

“Hồi Kí”, Nguyễn Hiến Lê, Văn Nghệ xuất bản, California, U.S.A, 1990.
“Hồi Kí”, Nguyễn Hiến Lê, Văn Nghệ xuất bản, California, U.S.A, 1990.

Cá nhân, tôi thấy đây là một sự phá phách nhiều hơn là một sự “cải cách”!

Nhìn chữ “”, “í kiến” v.v… thấy thô tục!

“Hồi Kí” của cụ Nguyễn Hiến Lê, Văn Nghệ xuất bản, California, U.S.A, 1990.

Tình hình xã hội Miền Nam Việt Nam sau 5 ( năm ) năm bị ngụy+ sản cai trị: 1975-1980.

Chương XXXI KẾT QUẢ SAU 5 NĂM; trang 89 – 117

[
Chú thích của hoangkyblog:

Sau 5 ( năm ) sống với Việt+, đến 1980, cụ nhận xét về chúng, và những thất bại của chúng.

Những vị ai đã sống qua giai đoạn này, chắc tìm lại được một phần của mình trong đó. Đối với riêng chúng tôi: 40 năm sau, nó chỉ tệ hại hơn sau 5 năm của cụ. Đọc chương này của cụ, và theo dõi tình hình Việt Nam bây giờ, chúng tôi có cảm giác như là mình đang đi ngược lại lại thời gian 1980: nhưng phải nhân những cái xấu xa của Việt+ lên mười lần!

Cũng xin được chú thích thêm, trên http://www.talawas.org/ xưa có một bài viết của một vị độc giả ở Việt Nam cho biết, tại Việt Nam, ngụy+ sản cho “xuất bản” bộ hồi ký này đến 6 ( sáu ) lần: không lần nào chính xác so với bản của Văn Nghệ — chúng sửa lại theo ý chúng!
]

THẤT BẠI TRONG HÒA BÌNH

Mấy tháng đầu sau ngày 30-4-75, các bạn kháng chiến, già cũng như trẻ, nhất là trẻ, đều có tâm lí chung là hăm hở hưởng thụ sau mấy chục năm gian khổ sống chui, sống nhủi trong rừng, trong bụi, dưới hố dưới hầm. Đành rằng phải bắt tay ngay vào việc kiến thiết, nhưng đã có đường lối sẵn rồi, có kinh nghiệm hai chục năm ở Bắc thì không có gì khó; vả lại đã thắng được Mĩ, thành cường quốc thứ ba trên thế giới, sau Nga và Trung hoa thì có việc gì mà làm không được, chỉ trong 5 năm sẽ tiến bộ, hai chục năm sẽ đuổi kịp Nhật bản về kinh tế.

Muốn kiến thiết thì trước hết phải san phẳng chế độ cũ đã, không để lại một dấu viết nào cả. Phải đuổi hết các nhân viên cũ, để anh em cách mạng chia nhau tất cả các chức vụ lớn nhỏ. Phải diệt bọn tư bản, chiếm nhà cửa, tài sản như núi của họ, chia nhau mỗi người một chút. “Đó là quyền của mình mà!”

Tóm lại, ai cũng “hồ hởi”, tin tưởng. Chỉ có thủ tướng Phạm văn Đồng là tỏ vẻ ưu tư một chút. Trong một cuộc hội hợp ở Sài Gòn, ông bảo các đồng chí: “Nous avons gagné la guerre, il ne faut pas perdre la paix” ( Chúng ta đã thắng trong chiến tranh, đừng để thất bại trong hòa bình ). Ông thấy rằng thắng được địch rồi mới là khởi sự bắt tay vào việc, chưa thể nghỉ ngơi, hưởng thụ được; mà công việc kiến thiết trong thời bình còn khó khăn gấp bội công việc diệt địch. Thời chiến hễ nung được lòng yêu nước của quốc dân rồi, giữ cho lòng đó đừng giảm, quốc dân kiên trì chịu đưng được tới phút chót thì không còn vấn đề gì nữa: thiếu cái gì đã có Nga, Trung hoa cung cấp cho; trái lại trong thời bình mới phải đương đầu với nhiều vấn đề nội bộ, ngoại giao, kinh tế, nhất là kinh tế. Nước ta nghèo, thiếu vốn đầu tư, thiếu kĩ thuật gia, khó phát triển kinh tế mau được. Thất bại về kinh tế thì sự nghiệp của cách mạng sụp đổ.

Bây giờ 5 năm sau ngày 30-4-75, hết kế hoạch ngũ niên đầu tiên rồi, chúng ta mới thấy cơ hồ chẳng tiến bộ về một phương diện nào hết mà còn thụt lùi nữa, và ai lạc quan tới mấy cũng phải nhận chúng ta đã bỏ phí 5 năm, và không biết phải mấy năm nữa mới bắt lại được thời gian đã mất đó. Trong khi ấy thì thế giới cứ vùn vụt tiến tới.

— Thất bại lớn nhất, theo tôi, là “KHÔNG ĐOÀN KẾT ĐƯỢC QUỐC DÂN”. Tháng 5-1975, có ít nhất 90% người miền Nam hướng về miền Bắc, mang ơn miền Bắc đã đuổi được Mĩ đi, lập lại hòa bình, và ai cũng có thiện chí tận lực làm việc để xây dựng lại quốc gia. Nhưng chỉ sáu bảy tháng sau, cuối 1975 đã có đa số người Nam chán chế độ ngoài Bắc, chán đồng bào Bắc. Tôi nhớ như ở phần trên tôi đã nói năm 1976, trong một cuộc hội nghị ở Sài Gòn, bàn về vấn đề thống nhất quốc gia, một học giả lão thành miền Bắc, ông Đào Duy Anh ( đã có hồi sống ở miền Nam nhiều năm, có nhiều bạn thân ở Nam ) khi được mời phát biểu ý kiến, chỉ nói mỗi một câu đại ý là thống nhất cái gì cũng dễ; quan trọng nhất là phải thống nhất nhân tâm đã. Cả hội trường sửng sốt và làm thinh.

Ông Anh đã nhận xét đúng và dám nói. Quả thực là lúc đó có sự chia rẽ nặng giữa người Nam và người Bắc, Nam đã không muốn thống nhất với Bắc rồi. Từ đó, tinh thần chia rẽ cứ mỗi ngày mỗi tăng, năm nay ( 1980 ) có thể nói 90% người miền Nam hay hơn nữa, muốn tách khỏi miền Bắc.

Có nhiều nguyên nhân.

Nguyên nhân chính theo tôi là người miền Bắc vơ đũa cả nắm, coi người Nam là “ngụy” hết, trụy lạc, bị nhiễm độc nặng của Mĩ. Ngay hạng trí thức miền Bắc như ông Đào Duy Anh cũng có thành kiến rằng dân Sài Gòn hư hỏng quá rồi. Họ chỉ nhìn bề ngoài, chỉ thấy một số thanh niên híp pi, lêu bêu ở ngoài đường; tôi phải giảng cho họ hiểu rằng đó chỉ là thiểu số, chứ đại đa số người trong này ghét Mĩ, ghét văn minh Mĩ, có thể nói gia đình nào cũng có người có cảm tình với kháng chiến, giúp kháng chiến cách này hay cách khác, nếu không vậy thì làm sao kháng chiến thành công được. Chỉ nội một việc biết người nào đó là kháng chiến mà không tố cáo cũng đủ có công với kháng chiến, chứ đừng nói là còn che chở, giúp tiền bạc, tiếp tay cho nữa. Chỉ trừ một số phản quốc, giúp tiền bạc, theo Mĩ, Thiệu triệt để vì quyền lợi, còn thì không có gia đình nào trong Nam là ngụy cả. Một số người yêu nước, có tư cách, mới đầu gia nhập kháng chiến, sau vì lập trường chính trị, phải rời hàng ngũ, về thành, mà không ưa Pháp, Mĩ, hạng đó không nên coi người ta là ngụy. Bọn thanh niên hư hỏng chỉ ở Sài Gòn mới có nhiều, mà tỉ số không cao so với những thanh niên đứng đắn.

Người Bắc coi người Nam là ngụy, đối xử với người Nam như thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mĩ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là ngụy thì tôi mới có lí, anh đừng nói nữa”.

Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kĩ thuật — điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học — thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè, hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú…

Thì ra: “Nhìn xa ngỡ tượng tô vàng…”

Ngay giữa các đồng chí cũng không có tinh thần đoàn kết: địa phương nào chỉ làm lợi cho địa phương đó, không nghĩ tới quốc gia; cơ quan nào cũng chỉ làm lợi cho cơ quan mình mà không giúp đỡ cho cơ quan bạn; ai nấy chỉ lo cho bản thân mình thôi mà không nghĩ tới đoàn thể. Một ông bạn tôi ở Hà nội vào Sài Gòn để đòi số tiền vài cơ quan khác thiếu của cơ quan ông. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Đâu phải là xí nghiệp tư mà giữ tiền lại để làm lợi cho mình. Điều là của công hết mà, hễ thu được tiền thì tự nhiên họ trả lại cho cơ quan anh, sao phải vào tận đây để đòi?” Anh bạn ấy đáp: “Nếu bạn nghĩ như anh thì còn nói gì?”.

Trong mỗi cơ quan ở Sài Gòn cũng có sự chia rẽ. Cùng là công nhân viên cả, mà bọn ở Bắc vô không ưa bọn Liên khu 5; hai hạng đó đều khinh bọn ở bưng trong Nam về; bọn này lại không chơi với bọn trước kia tập kết ra Bắc, nay trở vô Nam; bọn “nằm vùng” cũng không ưa bọn tập kết về đó; bị khinh nhất là bọn ngụy được tạm dùng lại, mà bọn này thạo việc hơn hết. Chính vì thiếu đoàn kết cho nên trong cuộc hội họp nào người ta cũng hô hào “Đoàn kết, đại đoàn kết”. Còn ở trong phòng họp thì ai cũng hoan hô tinh thần đoàn kết, ra khỏi phòng rồi thì đoàn kết hết. Người ta chỉ đoàn kết với nhau vì quyền lợi thôi; do đó mà có tinh thần bè phái, gia đình trị, và ở Bắc có câu này: Nhất thân, nhì thế, tam quyền, tứ chế.

Hễ thân với nhau thì giúp đỡ nhau, công việc gì cũng dễ dàng chứ cứ áp dụng đúng qui chế thì khó khăn nhất, chậm trễ nhất; người ta lè phè, tà tà, không làm cho mình đâu, nhắc nhở hoài chỉ làm cho người ta thêm ghét. Còn đâu là tinh thần tập thể nữa?

— Điểm thứ nhì làm cho chúng ta thất vọng là xã hội còn BẤT CÔNG hơn thời trước nhiều.

Marx và Lénine muốn tạo một xã hội không có giai cấp, công bằng, bình đẳng. Nhưng Staline cho sự bình đẳng là “không xứng” ( indique ) với một xã hội theo chủ nghĩa xã hội ( 1 ), và ở Nga, theo nhà bác học Sakharov ( trong một bài báo đã dẫn ) thì năm 1972 xã hội đã bất bình đẳng mà còn bất công. Không còn tình trạng tư bản bốc lột thợ thuyền, nhưng giai cấp lãnh đạo được hưởng rất nhiều quyền lợi còn giai cấp công nhân thì sống thiếu thốn. Cây quạt lương bổng ( eventail des salairs ) vẫn mở rộng, có phần còn hơn ở các nước tư bản; nói cách khác, lương giữa một viên giám đốc với một thợ không chuyên môn còn cách biệt nhau rất xa, hơn ở phương Tây. Kravchenko trong sách đã dẫn cũng phàn nàn rằng các đồng chí “bự” ( grosses légumes ) sống như ông hoàng, có phòng ăn riêng, thức ăn riêng, tiệm mua dược phẩm riêng, thợ hớt tóc riêng, nhà thương riêng, cầu tiêu riêng… cái gì cũng riêng, và ông ta chua xót thấy cách bóc lột thời ông bất lương hơn cách thời Nga hoàng ( trang 525, 105 ).

Ở nước mình cũng như Nga, không còn cái tệ tư bản bốc lột thợ thuyền; chế độ lương của mình còn hơn Nga là không có sự cách biệt rất xa giữa cấp cao và cấp thấp: công nhân viên mới vô được khoảng 40 đồng một tháng, kĩ sư mới ra trường được khoảng 55 đồng, giám đốc khoảng 150 đồng, bộ trưởng 200 đồng; nhưng các cán bộ cao cấp cũng được hưởng rất nhiều quyền lợi, tha hồ mua thức ăn, đồ dùng đủ thứ với giá chính thức; nghe nói có trường hợp vợ họ mua về bán chợ đen; và một người Nga hay Đức đã phải bảo lương những cán bộ tuy chỉ có 200 đồng mà sự thực họ được hưởng ít nhất là 2.000 đồng. Thủ tướng Phạm văn Đồng có lần đề nghị sửa đổi chế độ lương bổng: tăng lương cho những cấp trên, nhưng sự phân phối nhu yếu phẩm thì đồng đều; đề nghị đó bị đảng bác bỏ.

Có người nói một số “ông lớn” đi đâu cũng có người hầu xách bình nước sâm Cao li để ông lớn uống thay trà; một ông nọ luôn luôn có một bác sĩ ở bên và một thiếu nữ quạt hầu vì ông không chịu được quạt máy. Tôi không biết những tin đó đúng hay không, chỉ biết những tin đó do “anh em cách mạng” đưa ra cả.

Một ông bạn tôi bảo có vô nhà thương mới thấy có cả chục ( sic ) giai cấp bệnh nhân, tùy giai cấp mà được ở phòng nào, khám bệnh ra sao, trị bệnh ra sao, cấp thứ thuốc nào v.v…

Người chết cũng phân biệt giai cấp khi đăng cáo phó: cán bộ thường thì được mấy phân trên cột báo, cán bộ bự thì được mười mấy phân; lời cáo phó cũng theo những tiêu chuẩn riêng. Đúng là đường lối Staline.

Sài Gòn được giải phóng vài năm thì ta thấy xuất hiện ngay một hạng giàu sang mới nổi, thay thế bọn giàu sang thời Thiệu, và cũng thích những xa xí phẩm áo hàng thêu, hột xoàn, máy điều hòa không khí v.v… ) của thời Thiệu. Tiền đâu mà họ mua những thứ đó nhỉ?

Sự bất công chướng nhất, tàn nhẫn nhất là lương công nhân viên từ 1975 cứ đứng yên trong khi sự phân phối nhu yếu phẩm giảm đi gần hết, chỉ còn gạo, bo bo là tạm đủ, nhất là trong khi mãi lực của đồng bạc năm 1980 chỉ còn bằng 1/10 năm 1975; thành thử lương một công nhân viên chỉ đủ để mua củi chụm, lương một bác sĩ mới ra trường chỉ đủ để mua rau muống ăn. Khắp thế giới không đâu có chế độ lương bổng kì cục như vậy ( 2 ). Người nào cũng phải bán đồ đi mà xài, nhờ cha mẹ giúp đỡ, nếu không thì phải xoay xở mọi cách, làm sao sống được thì làm, chính phủ không biết tới. Một cán bộ ở Hà nội đã phàn nàn: “Người ta có rất nhiều quyền hành mà không có một chút tinh thần trách nhiệm nào cả. Thật lạ lùng!” Kravchenko ( trang 185 ) nói chính phủ Nga bắt dân đói để biết phép chính phủ mà phải răm rắp tuân lệnh. Ở nước ta không đến nỗi như vậy, có áp dụng chính sách đó thì chỉ áp dụng cho những kẻ thù của chết độ thôi tức bọn ngụy quân ngụy quyền còn ở trong một số trại cải tạo.

— Không ai có trách nhiệm mà tinh thần bè phái quá nặng, nên KHÔNG CÓ KỈ LUẬT, dưới không tuân trên, loạn.

Chương trên tôi đã nói tới cái tệ mỗi tỉnh là một tiểu quốc, địa phương tự do tới mức không tuân lệnh trung ương ( ngay xã cũng không tuân lệnh tỉnh huyện ), lấy lẽ rằng chỉ địa phương mới hiểu tình trạng của địa phương, cấp trên không nên xen vào; cái tệ nhân viên được lệnh đi công tác mà không đi, nằm ỳ ở nhà, một tuần sau trở lại sở, trả sự vụ lệnh mà không bị khiển trách; cái tệ nhân viên muốn bỏ sở về giờ nào thì về lấy cớ là phải kiếm gạo, chủ nhiệm đành làm thinh, chứ không biết đáp sao.

Tôi kể thêm một trường hợp nữa. Ông giám đốc một cơ quan nọ đến tuổi về hưu, bảo người giúp việc: “Tôi sẽ không về, về thì mất hết quyền lợi: xe hơi, ‘bìa’ ( sổ đặc biệt để mua nhu yếu phẩm ), nhà ở v.v…, mà còn bị xã ấp nó ăn hiếp, hoạch họe cái này, cái khác; không, tôi không về”. Một ông giám đốc mà sợ công an ấp vì công an có quyền bắt ai thì bắt, giam ai thì giam. Một viên công an bảo: “Tôi làm việc bốn năm năm rồi, mà bây giờ mới biết quyền hạn của tôi, từ trước tôi muốn làm gì thì làm”.

Vì mất kỉ luật, cho nên thanh niên trốn nghĩa vụ quân sự: ở miền Nam trốn tới 90%, có nơi cả 100% mà vẫn sống yên ổn. Bắt được họ, đưa họ ra trận, họ lại trốn nữa. Không thể giam hoài họ được, gạo đâu mà nuôi? Họ sống yên ổn ngay ở làng vì chỉ cần đút lót cho công an là êm. Còn nạn đào ngũ thì toàn quốc tới 25%. Trước kia người ta hi sinh để giành độc lập; bây giờ độc lập rồi lại đánh nhau với nước anh em, người ta không hăng hái nữa.

Nghe nói ở một tỉnh nọ, viên giám đốc sở tài chánh kiêm giám đốc ngân hàng ( ? ) ôm 60 lượng vàng cùng với 30 viên công an xuống một chiếc tàu của chính phủ, mang theo đầy đủ khí giới ( và không biết bao nhiêu lượng vàng nữa ) để vượt biên. Tin đó chưa lấy gì làm chắc nhưng chuyện công an — cây cột chống đỡ chế độ — ôm vàng vượt biên thì mấy năm nay nghe thường quá rồi.

Tinh thần vô kỉ luật đó, không biết một phần có phải do chính sách giáo dục trẻ em không. Người ta cấm đánh trẻ — điều đó có thể hiểu được — cấm nghiêm khắc với trẻ, chúng nghỉ học thì lại nhà mời chúng đi học; chúng làm biếng thì không bị phạt mà cô giáo bị trách là dạy dở. Kì tựu trường có nơi còn tổ chức múa lân đốt pháo để dụ trẻ em đi học nữa. Cô giáo nào mời được ít trẻ thì bị rầy. Riết rồi cô giáo ngán dạy quá, cứ tự ý nghỉ bừa, hiệu trưởng phải tới nhà năn nỉ, nếu không thì lỗi ở hiệu trưởng chứ không phải ở cô giáo. Và người ta ngán luôn cả nghề sư phạm: dốt hoặc muốn tránh nghĩa vụ quân sự mới phải thi vô sư phạm.

Kỉ luật như vậy, trẻ em càng được thể lười biếng, sức học rất kém, mà tính ngỗ nghịch ( bóp vú cô giáo như trên đã nói ) thì quá sức tưởng tượng. Một số can bộ già ở Bắc vô nhận rằng trẻ em trong này ngoan ngoãn, lễ phép. Nhưng tôi sợ rằng ít năm nữa, chúng đuổi kịp bạn chúng ở Bắc mất.

— Sự thất bại hiển nhiên nhất của chế độ là sự SUY SỤP CỦA KINH TẾ mà tôi đã trình bày sơ lược ở trên. Hậu quả là Việt nam trước thế chiến tự hào là “tiền rừng bạc bể”, có những đồng lúa, đồn điền cao su mênh mông ở miền Nam, những mỏ than, mỏ phốt phát phong phú ở miền Bắc mà bây giờ thành một trong vài nước nghèo nhất thế giới.

Từ ngày 30-4-75, do những đồng bào ở Bắc vào, chúng ta ở Nam mới lần lần biết cảnh điêu đứng của dân tình ngoài đó sau hai chục năm sống dưới chế độ mới. Từ trên xuống dưới ai cũng phải ăn độn có khi 60-70% ( 3 ); có hồi gạo quí tới nỗi người ta cất vào trong những cái thố, cái liễn, trân trọng như nhân sâm, chỉ khi nào đau ốm mới lấy ra một nhúm để nấu cháo; ngày tết mà có đủ gạo nấu cơm cúng ôm bà là mừng lắm; khi nào được ăn một bữa cơm không độn với nước mắm thôi thì coi như được dự một bữa tiệc. Nước mắm rất hiếm, có người ở Nghệ an hay Hà tĩnh mấy năm không có nước mắm ăn, gặp người trong Nam ra đem theo nước mắm, xin một vài muỗng rồi cầm nuốt ực ngay hết, không đợi đem về nhà.

Bát ăn mỗi người mỗi năm chỉ được một cái, hễ vỡ thì phải ăn bằng sọ dừa. Vải mỗi năm chỉ được phát một hai thước đủ để vá áo. ( Ở miền Nam năm 1980, có nơi mỗi người chỉ được 6 tấc. )

Nhiều người vào Sài Gòn thăm bà con, khi ra vơ vét đủ thứ, từ cây đinh, khúc dây chì, lon sữa bò, ve chai… đem ra, vì ở ngoài đó thường cần dùng tới mà không kiếm đâu ra. Họ cho miền Nam này là thiên đường.

Nhưng một người Ba lan trong Ủy ban kiểm soát quốc tế năm 1975 bảo chỉ trong 5 năm, miền Nam sẽ “đuổi kịp miền Bắc”, nghĩa là nghèo như miền Bắc. Lời đó đúng, rất sáng suốt. Nếu không nhờ mấy trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gởi tiền, thuốc men, thực phẩm, quần áo… về giúp bà con ở đây thì chúng ta hiện nay cũng điêu đứng như anh em miền Bắc rồi.

Dân miền Nam từ xưa chưa bao giờ biết đói, phải ăn độn thì năm 1979 đã phải ăn độn 70-80%, có những gia đình phải ăn bữa cơm bữa cháo, có cô giáo và học sinh đói quá, tới lớp té xỉu.

Nhà nào cũng bán đồ cũ để ăn; nhiều giáo viên nhà đã trống rỗng, không còn bàn ghế nữa, ăn ngủ trên sàn. Ai cũng chỉ lo sao có cái gì nuốt cho đầy bao tử, chứ không dám nghĩ tới miếng ngon. Tết Canh Thân vừa rồi, ở Long xuyên, nhà một giáo viên hồi hưu, trên bàn thờ ông bà chỉ bày một đĩa có mấy chiếc bánh phồng và bánh gai, không có một đòn bánh tét, một quả dưa hấu.

Khổ nhất là bọn đi kinh tế mới, thất bại, tiêu tan hết vốn liếng, về Sài Gòn, sống cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin, moi các đống rác hôi thối, lượm một miếng giấy vụn, một túi ni lông, một miếng sắc rỉ, một quai dép mủ… để bán cho “ve chai”. Trông thấy đống túi ni lông được rửa qua loa trong nước dơ rồi phơi ở lề đường để bán cho tiểu thương đựng hàng, tôi ghê tởm quá.

Ở Bắc tình hình hiện nay điêu đứng hơn những năm kháng Mĩ. Nghe nói ngoài đó đã xuất hiện câu ca dao ( 4 ):

Anh Đồng, anh Duẩn, anh Trinh,
Ba anh có biết dân tình cho không?
Rau muống nửa bó một đồng
Con ăn bố nhịn, đau lòng thằng dân.

Ở Nam có nơi hai tháng nhân viên chưa được lãnh lương, chắc nhiều gia đình không đủ tiền mua rau muống cho con nữa. Một bạn tôi phải ăn nước mắm kho khô.

Không có tiền mua rau thì làm gì có tiền mua thịt. Muốn lâu lâu có thịt thì phải nuôi heo, gà, cho nên nhiều cơ quan ngay khi mới thành lập đã nghĩ ngay đến việc hùn tiền ( hay lấy trong quĩ? ) mua heo con, phân công nhau nuôi tại khu ở tập thể, như vậy đến lễ, tết mới có thịt liên hoan. Người ta thèm thịt quá, cho nên liên hoan lu bù, bất kì một dịp gì cũng liên hoan được: một bạn đồng nghiệp được ban khen, ngày tựu trường, bãi trường, họp bạn để học tập, ban hành hiến pháp mới, làm xong một công tác, mỗi ngày lễ, tết… mỗi năm liên hoan cả chục lần là ít.

Cơ quan nào cũng có đủ nhà bếp, chén dĩa, xoong chảo, người làm bếp ( lựa trong nhân viên ) để nấu ăn làm tiệc… Và khi ngồi vào bàn tiệc thì chẳng ai mời ai, đợi ai, mạnh ai nấy gắp, ăn cho thật mau ( tới nỗi có người bảo cứ nuốt trước rồi sẽ nhai sau! ), tệ gấp 10 thói ăn uống ở đình làng mà Ngô Tất Tố đã mạt sát trong cuốn “Việc làng”.

Nghèo thì sinh ra bẩn. Ngay trong khu tập thể một trường Đại học Hà nội, phòng một giáo sư ở Pháp về cũng dơ dáy, từ sàn gạch đến tường đều đầy vết bẩn. Hỏi như vậy làm sao chịu được, ông ta nhún vai đáp: “Lâu rồi quen đi”. Không nên trách ông ta. Dù muốn sống sạch cũng không thể được: đâu có vôi để quét tường? Đâu có xà bông để rửa sàn? Đâu có giẻ để lau? Nước thì có nhưng phải xuống dưới sân để hứng rồi xách lên 5-6 chục bực thang, ai mà không ngại?

Phải, lâu rồi thì quen đi. Nếu tình trạng không thay đổi thì chỉ mươi năm nữa, toàn dân sẽ quen đi, không thấy gì là bẩn nữa. Hiện nay ở trong Nam đã nhiều nhà để bụi đóng đầy bàn ghế — mà trước kia họ sống rất sạch — mạng nhện giăng đầy trần, còn dân thị xã thì đã quen với cảnh bốn năm người cùi nằm trên đường đưa tới chợ, lăn ở giữa chợ để xin ăn.

Câu “nghèo cho sạch, rách cho thơm” của ông cha, chúng ta không giữ được vì chúng ta nghèo tới mức không thể ở sạch được.

❀❀❀

XÃ HỘI SA ĐỌA

Điều đáng ngại nhất là sa đọa về tinh thần, tới mất nhân phẩm.

— Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ THAM NHŨNG cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng: xin vô hộ khẩu một thành phố lớn thì bao nhiêu tiền, một thị xã nhỏ thì bao nhiêu, một ấp thì bao nhiêu. Muốn mua một vé máy bay, vé xe lửa thì bao nhiêu. Muốn được một chân công nhân viên, phải nộp bao nhiêu… Cái tệ đó còn lớn hơn tất cả các thời trước.

Nếu một cán bộ nào bị dân tố cáo nhiều quá thì người ta cũng điều tra, đưa cán bộ đó tới một cơ quan khác ( có khi còn dễ kiếm ăn hơn cơ quan cũ ), đem người khác ( cũng tham nhũng nữa ) lại thay. Ít tháng sau dân chúng nguôi ngoai rồi, người ta lại đưa kẻ có tội về chỗ cũ. Người ta bênh vực nhau ( cũng là đảng viên cả mà ) vì ăn chịu với nhau rồi. Dân thấy vậy, chán, không phí sức tố cáo nữa. Có người còn bảo: “Chống chúng làm gì? Nên khuyến khích chúng sa đọa thêm chứ để chúng mau sụp đổ”.

Có những ông trưởng ti uống mỗi ngày một ve Whisky ( tôi không biết giá mấy trăm đồng ), hút hai ba gói thuốc thơm 555 ( 30 đồng một gói ). Bọn đàn em của họ cũng hút thuốc thơm, điểm tâm một tô phở 6 đồng, một li cà phê sữa 4 đồng, sáng nào như sáng nấy mà lương chỉ có 60-70 đồng một tháng.

— Như vậy thì tất phải có những vụ ăn cắp của công ( Kho một trung tâm điện lực nọ cứ bốn năm tháng lại mất trộm một lần mà không tra ra thủ phạm; rất nhiều bồn xăng bị rút cả ngàn lít xăng rồi thay bằng nước… ), thụt két, ôm vàng trong ngân hàng đề vượt biên, có khi lại tạo ra những vụ kho bị cướp, bị cháy v.v… Y tá ăn bớt thuốc của bệnh nhân rồi tố cáo lẫn nhau, giám đốc biết mà không làm gì được. Lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ. Ăn cắp nhỏ thì chỉ bị đuổi chớ không bị tội, vì “họ nghèo nên phải ăn cắp”, mà nhốt khám họ thì chỉ tốn gạo nuôi. Vì vậy chúng càng hoành hành, ăn cắp, ăn cướp giữa chợ, cảnh sát làm lơ, còn dân chúng thì không dám la, sợ bọn chúng hành hung. Ăn cắp lớn, không thể im được thì phải điều tra, bắt giam ít lâu, rồi nhân một lễ lớn nào đó, ân xá; không xin ân xá cho họ được thì đồng đảng tổ chức cho vượt ngục rồi cùng với gia đình vượt biên yên ồn.

— Nạn “phe phẩy” ( buôn lậu, làm chợ đen ) còn bành trướng hơn nữa. Có thể nói một phần ba dân miền Nam ( ở Bắc chắc ít hơn ) làm nghề đó. Họ móc nối với những nhân viên kiểm soát, với giới xe đò; và cứ năm chuyến bị tịch thu một chuyến thì họ vẫn còn sống được. Chỉ có nghề đó là đủ ăn, đôi khi phè phỡn nữa, còn làm nghề gì khác cũng sạt nghiệp. Bọn “lơ xe” bán vé cho bọn buôn lậu đó, giấu hàng cho họ, kiếm mỗi ngày được 200 đồng, bằng lương tháng một bộ trưởng. Dĩ nhiên họ cũng phải chia một phần cho công an, kiếm soát viên. Họ hút toàn thuốc thơm, uống toàn cà phê fin ( filtre: lọc ), ăn một tô phở 6 đồng ( giá 1980 ), bận toàn đồ Mĩ. Người ta gọi họ là các “ông lơ”. Một đứa cháu của tôi học lớp 9, vào hạng tiên tiến, thấy họ sống sung sướng như vậy, muốn bỏ học để học làm lơ xe, cũng bắt đầu hút thuốc lá, uống cà phê rồi.

Ngoài Bắc không có gạo ăn mà miền Tây trong Nam làng nào cũng có cả chục lò — nghe nói có làng cả 100 lò — nấu rượu lậu để đưa lên Cao miên và tiêu thụ ngay trong miền. Người ta pha vào trong rượu một chất hóa học gì đó — thuốc trừ sâu — cho nồng độ của rượu cao; uống rất có hại.

Người ta nói đã có những vụ buôn lậu thuốc phiện; nếu có thì cũng nhỏ thôi, kém xa thời Mĩ, Thiệu. Nhưng đồ lậu như vải, thuốc thơm, thuốc tây — thì khoảng một năm nay lan tràn thị trường: tàu Thái lan đậu ngoài khơi, ghe tàu của mình từ bờ băng ra, đưa vàng ra đổi các thứ đó, cả đồng hồ điện tử từ Singapore hay Nhật bản nữa.

Lại thêm dọc biên giới Việt-Miên, Miên-Thái có nhiều đường buôn lậu từ Thái qua Miên rồi qua Việt. Không biết vàng Việt nam mỗi năm chạy ra nước ngoài bao nhiêu.

Có đồ buôn lậu thì luôn luôn có đồ giả. Bọn tàu Chợ lớn cái gì cũng làm giả được, từ rượu tới thuốc hút, dầu thơm… nhiều nhất là dược phẩm Tây phương, vì thứ này vừa hiếm vừa đắt. Một bác sĩ khuyên tôi đừng mua Ampicilline, B12, Vitamine C ( chích ), Syncortyl ở chợ trời. Chị hốt rác trong khu tôi ở một buổi sáng thấy trong một thùng rác một bọc lớn đầy ống Vitamine C để chích. Có tới 200 ống, mỗi ống 2cc, mà chỉ bán cho người ta có 6 đồng. Chỉ khổ dân quê. Thế nào cũng có y sĩ, y tá chích cho họ thứ đó và chém 5 hay 3 đồng một mũi.

Nạn cờ bạc không công khai như trước, nhưng nạn “sổ xố đuôi” thì công khai rồi; người ta bàn nhau nên đánh số nào, số nào ở ngay giữa chợ. Xưa mỗi tuần chỉ xổ số một lần, nay mỗi tuần bảy tám lần vì tỉnh nào cũng sổ xố, tự trị mà! Người dân chỉ ngong ngóng chờ giờ xổ số để dò số mà bỏ bê công việc. Nhiều người sạt nghiệp, nhưng cũng có nhiều người nhờ đó kiếm được miếng ăn; thầy giáo hồi hưu, đại úy đi cải tạo về, ngồi bán giấy số ở chợ, kiếm được mươi đồng một ngày.

Nạn cho vai nặng lãi cũng kinh khủng. Một cán bộ giáo dục, đảng viên, cho bạn trong sở vay 100 đồng, mỗi tuần trả lời 20 đồng, tính ra mỗi năm 1.000 đồng, vốn được nhân lên gấp 10. Bạn hàng ở chợ không chơi hụi tháng như xưa nữa, mà chơi hụi tuần, hụi ngày!

Nạn đĩ điếm đã hết đâu. Ngay cuối 1975, một cán bộ cách mạng đã bảo các bạn kháng chiến ở bưng về mắc bệnh hoa liễu hết rồi; một số cán bộ rất nghiêm trang đạo mạo — có kẻ ngoài 70 tuổi — từ Hà nội vào, năn nỉ các bạn trong Nam chỉ chỗ cho họ hưởng thú mê li đó một lần cho biết mùi. Chỉ khác là bây giờ người ta làm nghề đó một cách không lộ liễu quá như trước. Họ rất thích sách khiêu dâm, và loại sách này với loại truyện chưởng lan ra Bắc từ mấy năm nay rồi.

Tóm lại bao nhiêu cái xấu xa thời trước vẫn còn đủ mà có phần còn tởm hơn nữa.

❀❀❀

CON NGƯỜI MẤT NHÂN PHẨM

Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hóa ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả.

Năm 1975 đa số các cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa.

Gởi họ mang ra giùm một cuốn sách tặng một người ở Hà nội, họ giữ lại 5-6 tháng, vợ chồng con cái, bạn bè coi cho hết lượt, sách nhàu rồi, họ mới đem lại cho người nhận sách; có khi họ lấy luôn, nhắc họ, họ bảo thất lạc, để kiếm. Mà ba người nhận được sách thì chỉ có một người cảm ơn tôi.

Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi, đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chận tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.

Thời Pháp thuộc, không bao giờ nhân viên bưu chính ăn cắp đồ trong các bưu kiện. Thời Nguyễn văn Thiệu thỉnh thoảng có một vụ ăn cắp nhưng nhỏ thôi. Từ bốn năm nay ở khắp miền Nam, cứ 10 bưu kiện ở ngoại quốc gởi về thì có 6-7 bưu kiện bị ăn cắp hoặc đánh tráo vài ba món, thường là dược liệu và vải. Kêu nài thì nhân viên bưu chính bảo: “Không nhận thì thôi; có muốn khiếu nại thì cứ làm đơn đi”. Không ai buồn khiếu nại cả vì cả năm chưa có kết quả, mà nếu có thì số bồi thường không bõ. Cho nên chúng tha hồ ăn cắp, ăn cướp một cách trắng trợn. Trắng trợn nhất là chúng lấy trộm tất cả bưu kiện trong một kho, như ở Long xuyên năm 1981; nếu là kho lớn thì chúng đốt kho như ở Tân sơn nhất hai năm trước.

Nhơ nhớp nhất là vụ một cán bộ vào hàng phó giám đốc, mưu mô với vợ, làm bộ tổ chức vượt biên cho vợ chồng con cái một đứa cháu ruột, bác sĩ ở Sài Gòn, nhận mấy chục lượng vàng của cháu ( và sáu chục lượng vàng của gia đình bên vợ đứa cháu đó nữa vì họ cũng muốn vượt biên ), rồi lừa gạt người ta, tố cáo với công an bắt hết cả nhóm trên mười người khi họ ra Vũng tàu chờ ghe đưa ra khơi. Đa số cán bộ ở Nam đã tư bản hóa rồi, một xã hội chủ nghĩa xã hội mà như vậy thì chủ nghĩa đó chỉ còn cái tên thôi.

Sống dưới chế độ cộng sản; con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó.

Nạn làm tiền, tống tiền lan tràn khắp các ngành, cả trong ngành cứu nhân độ thế và ngành tống táng. Để cho bác sĩ ngụy đủ sống mà khỏi vượt biên, chính phủ năm 1980 cho phép họ ngoài giờ làm việc được khám thêm bệnh ở nhà và định cho họ số tiền thù lao là 1 đồng ở Sài Gòn, 0,8 đồng ở tỉnh ( 5 ). Nhưng ở Long xuyên bác sĩ nào cũng thu của bệnh nhân 10 đồng. Có kẻ ra một cái toa cần 9 thứ thuốc toàn thứ đắc tiền, trị đủ các bệnh: tim, phổi, gan, thận, bao tử… cho một bà lão suy nhược, rồi bảo lại mua của một tên buôn lậu đồng lõa với họ. Tính ra toa đó mua cho đủ thì mất cả triệu đồng cũ 1 ( 2.000 đồng mới ). Một số bác sĩ không làm tiền cách đó, không ra toa mà bắt bệnh nhân mỗi ngày lại để các ông ấy cho thuốc và chích cho, và phải trả các ông ấy từ 60 đồng đến 100 đồng mỗi lần. Năm 1981, tiền thù lao từ 10 đồng đã hạ xuống còn 5 đồng, có lẽ vì bác sĩ làm riêng khá đông, cạnh tranh nhau. Và tháng 7-1981 có lệnh không cho bác sĩ công làm tư tại nhà nữa, mà muốn làm tư thì lại dưỡng đường làm ngoài giờ làm việc. Chưa thấy ai theo.

Bệnh nhân lỡ mà chết thì bị hàng xăng tống tiền: quốc doanh định 45 đồng kể cả một bịch thuốc lá và 4 sthước vải thô, nhưng tang gia phải trả 400 đồng thì xăng mới được ghép lại kĩ, khỏi trống hổng trống hoảng với 8 cây đinh đóng hờ. Rồi tới nhà đòn cũng đầu cơ: hạ huyệt xong, phủ qua một lớp đất cho bằng mặt, muốn có cái mồ cho ra mồ thì phải đưa thêm vài trăm đồng nữa. Nếu đem thiêu mà cứ nộp đúng lệ thì xương ống xương hông bị ném riêng vào một chỗ, chứ không thiêu hết. Ai nỡ để cha mẹ mình què!

Tất cả chỉ tại cái lệ chính phủ định giá, định lương rẻ quá không cho dân đủ sống, dân phải xoay xở lấy, bóc lột lẫn nhau. Cổ kim chưa một xã hội nào phi lí như vậy. Vì biết mình phi lí nên có nơi chính quyền làm ngơ cho bác sĩ làm ăn, cho phép các giáo viên ngụy dạy thêm tại nhà.

Nói cho ngay, thời nào trong xã hội cũng có một số người lương thiện. Và ông Phạm văn Đồng đã nhận rằng thời này hạng đó thiệt thòi nhất. Tôi được biết một hai cán bộ trung cấp liêm khiết, chịu nghèo, nuôi heo thêm, chứ không tham nhũng. Gia đình họ phải ăn rau muống; quần áo thì vá đụp; có thể nói họ nghèo như các nông dân nghèo nhất thời xưa.

Tóm lại sau 5 năm chúng ta không thấy chút tiến bộ nào cả mà chỉ thấy sự chia rẽ trong xã hội, sự tan rã trong gia đình, sự sa đọa của con người, sự suy sụp của kinh tế.

Ông Hồ Chí Minh có lần nói: “Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa thì phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Con người vẫn là quan trọng hơn cả. Có chế độ tốt, chính sách tốt mà không có con người tốt thì cũng hỏng hết. Ai cũng phải nhận rằng tinh thần, tư cách đại đa số cán bộ càng ngày càng sa sút, hủ hóa mà xã hội chủ nghĩa mỗi ngày một lùi xa. Ông Hồ đã thấy trước cái mòi suy vi đó khi ông thốt ra lời trên chăng?

❀❀❀

PHONG TRÀO VƯỢT BIÊN

Tôi không biết trước giờ giải phóng, từ Bến hải trở vào, trong số trên 20 triệu dân có bao nhiêu người vội vã di cư để trốn cộng sản. Dăm bảy ngàn hay vài chục ngàn? Người nào cũng có tâm trạng não nề: bỏ quê cha đất tổ, bỏ thân thích bạn bè, bỏ cả sản nghiệp ( có người mới mua được ngôi nhà vài ba chục triệu — hồi đó khoảng 100.000 đồng cũ một lượng vàng — chưa ở được 5-6 tháng đã phải bỏ lại ) để qua nước người ăn nhờ ở đậu, làm thứ công dân “da màu”, một thứ công dân hạng hai, và bắt đầu xây dựng lại từ đầu; như vậy mà ai vui cho được? Những người đi đó hoặc là quân nhân, công chức trong các chính phủ trước, hoặc đã có thời sống với cộng sản ở Bắc, sợ chế độ ngoài đó, đã di cư một lần nay lại di cư lần thứ hai. Những người ở lại, xét chung, đều sẵn sàng chấp nhận chế độ mới, dù chưa biết rõ nó ra sao; một số đông còn hăng hái tiếp tay với chính quyền mới để xây dựng một xã hội tốt đẹp cho tương lai nữa.

Nhưng chẳng bao lâu nhiều người thất vọng, qua năm 1976, đã có lác đác một số thanh niên vượt biên. Họ không có tổ chức, không chuẩn bị kĩ, lên miền cao nguyên ở Trung rồi kiếm đường qua Lào, từ Lào sẽ qua Thái lan. Họ bị bắt hoặc thấy nguy phải quay về.

Từ năm 1977, người ta dùng đường biển, phong trào vượt biên phát triển rất mạnh tới mức một bà già nông dân miền Tây phải nói: “Cây cột đèn nếu đi được thì cũng đi”. Dù phải gian lao cực khổ tới nước nào, hễ ra khỏi được nước là sướng rồi, làm mồi cho cá mập vẫn còn hơn ở lại trong nước mà chết lần chết mòn, người ta nghĩ vậy. Cha mẹ già chỉ có mỗi một người con mà cũng khuyên nó vượt biên; chồng đi “cải tạo” — nghĩa là bị giam trong những trại tập thể chưa biết bao giờ mới được về vì là “ngụy hạng nặng”, phải cải tạo tư tưởng, đời sống — cũng nhắn vợ con vượt biên được thì cứ vượt, dắt con theo. Một thanh niên vượt biên thoát mới tới Thái lan đánh điện về cho cha mẹ: “Ba má nhớ hôm nay là ngày sinh nhật của con không?” và cha mẹ mỉm cười, hiểu.

Có ba cách vượt biên.

Cách CHÍNH THỨC, sướng nhất là có người thân, cha mẹ, vợ chồng hay con cái ở ngoại quốc xin cho được đoàn tụ gia đình. Trường hợp đó được chính phủ cho phép, được Ủy hội quốc tế tị nạn ( Haut commissariat des réfugiés: H.C.R. ) giúp đỡ. Đơn gởi rồi, sáu tháng hay một hai năm sau được đi. Sớm muộn là tùy mình biết “phải trái” hay không. Đi thì gia sản để lại hết, chỉ được mang theo ít tư trang với ít tiền ăn đường.

Cách BÁN CHÍNH THỨC, theo nguyên tắc, cho người Việt gốc Hoa, nhưng người gốc Việt mà muốn thành gốc Hoa thì cũng không khó. Có tiền là được hết.

Một người đứng ra tổ chức, nộp đơn xin cho cả nhóm người — khoảng vài trăm — vượt biên kèm theo hồ ssơ của từng người, và nộp cho chính phủ 4 lượng vàng. Chính phủ cho phép rồi, bọn người đó tập trung lại một nơi, hùn nhau đóng thuyền đóng xong, chính phủ sẽ cho công an xuống xét thuyền, xét lí lịch, hành lí từng người ( mỗi người cũng chỉ được mang theo ít tiền thôi ), rồi cho phép nhổ neo ra khơi, chính phủ bảo đảm an ninh cho tới khi ra hết hải phận quốc gia, rồi từ đó thuyền muốn đi đâu thì đi, chính phủ không biết tới. Rất ít nước chịu tiếp thu bọn đó, và xét kĩ từng người rồi mới cho lên bờ.

Có thuyền chở khẳm quá, thuyền đóng cho 200 người thì chở tới 300, lại thêm chính quyền địa phương “gởi” một hai trăm người nữa, ngồi chen chúc nhau như cá hộp, không nhúc chích được, như vậy ba bốn ngày, ăn uống, đi tiểu rất bất tiện mà cũng rán chịu. Có chiếc vừa ra khơi được vài chục hải lí, gặp cơn dông, chìm, xác chết tấp vào bờ, ngổn ngang trên bãi cát.

Có trường hợp chính phủ đã nhận đủ vàng, thuyền đóng chưa xong thì có lệnh trên hoãn các cuộc vượt biên chính thức lại; hoãn cả năm rồi và hiện nay ( 1980 ) còn rất nhiều người phải ở chỗ đóng thuyền, vì họ làm khai sinh giả, nhà đã bị tịch thu, chỗ đâu mà về. Họ xin chính phủ trả lại số vàng, chính phủ chỉ trả một phần ba, hoặc trả tất cả theo giá vàng chính phủ định không bằng 1/5 giá vàng trên thị trường. Họ lêu bêu, thành một bọn vô gia cư, vô nghề nghiệp, sống cực điêu đứng.

Cách thứ ba là ĐI CHUI, nghĩa là đi lậu. Một người đứng ra tổ chức, một nhóm từ 20 đến 4-5 chục người, hùn nhau từ 4 đến 7-8 lượng vàng đóng thuyền, kiểu thuyền đánh cá, mua một bãi biển, nghĩa là đút lót cho công an, chính quyền ở làng có bãi biển, đút lót cho cả công an vài nơi chung quanh để người vượt biên khỏi bị xét hỏi, thuyền yên ổn được rời bến ban đêm. Công an những nơi có bãi biển đó nhờ vậy làm giàu rất mau, có kẻ chỉ một hai năm được vài chục lượng vàng và ôm vàng vượt biên. Do đó mà trong dân gian xuất hiện truyện tiếu lâm dưới đây.

“Một hôm nọ, người canh lăng bác Hồ bổng thấy xác ướp của bác biến đâu mất, hoảng hốt đi tìm khắp nơi, tìm ở nhà sàn của bác không thấy, về quê hương bác ở Nghệ an cũng không thấy, nghi rằng bác vào chơi thành phố của bác, liền vào Sài Gòn kiếm, sau cùng một đêm, thấy bác ngồi một mình, rầu rĩ ở bến Sáu kho, thành phố Hồ Chí Minh, hỏi bác, sao lại ra ngồi đấy, bác đáp: ‘Bác không muốn ở nước này nữa, muốn qua phương Tây đây, mà tụi công an đòi bác sáu cây, bác có cây đâu mà nộp cho chung’” — “Cây” là “cây hai lá rưỡi” nói tắt, tực một lượng vàng vì mỗi lượng có hai lá rưỡi vàng”.

Thường là thoát được, ít khi gặp tàu tuần; nhưng nhiều khi gặp bão, thuyền chìm, làm mồi cho cá mập, hoặc gặp bọn cướp biển Thái lan. Chúng vơ vét hết, chỉ chừa cho mỗi người một cái quần cụt, và có thiếu phụ bị chúng hiếp dâm tới 19 lần ( 6 ). Sau cùng may phước tới được bờ biển Thái lan hay là một đảo Mã lai — sướng nhất là được một tàu Tây phương vớt — lúc đó mới kể là còn sống.

Có một trường hợp xui lạ lùng. Một đoàn người lên được một đảo Mã lai, ở được ít lâu rồi một hôm chính quyền trong đảo lùa họ xuống hết thuyền của họ, bảo để đưa đến một đảo khác; nhưng ra khơi, chúng cắt đỏi cho thuyền trôi đâu thì trôi ( máy móc bị chúng gỡ rồi ) và ít ngày sau, thuyền giạt vào bờ biển Cà mau, bị bắt giam hết, người thì 5-6 tháng, người thì 3 năm.

Mặc dầu nguy hiểm như vậy, người ta vẫn không sợ, thua keo này bày keo khác. Có người tới lần thứ tư mới thoát, lại có người lần thứ 10 vẫn chưa thoát, mà sản nghiệp tiêu tan hết, không biết sống bằng gì.

Có người mạo hiểm dám băng ra khơi bằng một chiếc tắc-ráng ( bo-bo ): loại xuồng nhỏ, chở được độ mươi người, chạy bằng xăng, lướt trên nước rất mau. Vậy mà thoát được.

Từ cuối 1979 thêm một cách vượt biên nữa bằng đường bộ, ngã Cao miên. Hoặc theo xe nhà binh, hoặc theo người Miên đi buôn lậu, lên tới Nam vang rồi tới Battambang, Sisophon. Phải mang theo vàng để đóng thuế mãi lộ. Tới biên giới Thái lan, nếu biết tiếng Anh, tiếng Pháp thì sẽ được Ủy hội quốc tế tị nạn giúp đỡ. Nghe nói cách đó chỉ tốn 2-3 lượng, mỗi chuyến đi chỉ được vài ba người ăn bận như bọn luôn lậu. Cũng nguy hiểm như vượt biển. Một đứa cháu nhà tôi trong túi chỉ có 100 đồng, không biết tiếng Miên, không quen ai ở Miên mà cũng vượt biên cách đó.

Người nào vượt biên được một nước nào tiếp thu rồi, được trợ cấp hay kiếm được việc làm rồi, cũng gởi ngay về cho thân nhân một gói thực phẩm, thuốc uống, quần áo… bán được một hai ngàn đồng. Họ làm lụng cực khổ, ( rửa chén trong quán ăn… ) nhịn hút thuốc để giúp gia đình vì biết rằng người ở lại thiếu thốn gấp mười họ. Chính nhờ họ mà nhiều gia đình miền Nam mới sống nổi, nhờ họ một phần mà dân miền Nam có thuốc tây để uống, có vải may quần áo, không đến nỗi rách rưới quá. Trong hoạn nạn tình cha mẹ, con cái, vợ chồng lúc này lại đằm thắm hơn xưa. Cái củi thành cái may.

Về vật chất họ được đầy đủ, nhưng về tinh thần họ rất đau khổ. Nhớ bà con họ hàng, nhớ quê hương xứ sở, nhớ day dứt, da diết. Họ khóc thương thân phận anh hay em ở trong các trại cải tạo mỗi bữa chỉ được một nắm bo bo; thân phận cha mẹ chú bác phải đấy chiếc xe bán củi, bán chuối dưới mưa, dưới nắng, đau ốm không có thuốc uống; thân phận con cháu quanh năm không được một li sữa, một cục đường. Ở một xứ gần như trời luôn luôn u ám, họ ước ao được nhìn thấy một tia nắng, một nền trời xanh, và khi trời xanh, ánh nắng hiện lên thì họ càng nhớ quê hơn nữa; họ muốn được vuốt ve thân cây chuối nhẵn bóng và mát rượi; được nhìn ánh vàng nhảy múa trên những tàu dừa phe phẩy dưới gió nồm; nhìn hoài những con đường thênh thang trải nhựa, họ chán ngấy, mơ tưởng được đi chân không trên những con đường đất ở giữa hai bờ cỏ, dưới bóng lưa thưa của hàng so đũa, ven một cánh đồng lúa xanh: mặt đất ấm hơn mặt đường nhựa biết bao mà có gì thơm mát bằng mùi lúa xanh, sau mấy năm ngửi mùa xăng nhớt.

Có những thiếu phụ thay đổi hẳn tính tình: ở nước nhà thì thích trang điểm, đi dạo phố, họp bạn; qua nước người thì suốt ngày ở trong phòng lau chùi, quét tướt, nấu ăn cho chồng con, không chịu ra đường, chồng con lôi kéo cũng không đi; một ngày kia họ sẽ loạn tinh thần mất. Khổ nhất là những bà 50-60 tuổi,không biết ngoại ngữ, không sao thích ứng được với đời sống Tây phương, mới xa quê được một năm đã đòi về, ngày nào cũng ngóng tin nhà, và được thư thì đọc đi đọc lại tới thuộc lòng. Ngày đêm họ cho quay băng “Sài Gòn ơi, li biệt” của Thanh Thúy, băng “Ta chẳng lẽ suốt đời lưu vong” của Phạm Duy mà khóc mướt. Giọng ảo não không kém bài hát của dân tộc Do thái khi bị đày ở Babylon hồi xưa.

❀❀❀

Trong số những người ở lại, đáng thương nhất là những cặp vợ chồng già không có con cái, bị chính phủ chặn lương hưu trí, rán sống lây lất vài năm, bán hết đồ đạc để ăn rồi tự tử.

Rồi tới những người sản nghiệp tiêu tan vì đi kinh tế mới hoặc vì vượt biên mấy lần mà thất bại, sống cầu bơ cầu bất ở vỉa hè các thành phố lớn nhỏ như bọn ăn mày.

Rồi những cô giáo, cô kí chồng đi cải tạo 5 năm đằng đẵng, ở nhà xoay xở đủ cách, làm việc đêm ngày, nhịn ăn nhịn mặc để nuôi bốn năm đứa con, vài tháng lại tiếp tế cho chồng một lần. Họ vì hoàn cảnh mà hóa đảm đang, tư cách lại cao lên, không chịu nhân sự giúp đỡ của họ hàng, bạn bè.

Rồi những thiếu nữ học hết Đại học sư phạm hay Luật mà không muốn làm công nhân viên vì lương thấp quá, kiếm một cái sạp nhỏ nửa thước vuông bán thuốc rời hay quần áo cũ, thuốc tây ở lề đường, vất vả nhưng kiếm được 10-15 đồng mỗi ngày, đủ cơm cháo cho cha mẹ và em. Họ lễ phép, chăm chỉ, dễ thương.

Tất cả những người đó và còn nhiều hạng người khác nữa đáng tự hào là ngụy. Ngụy mà như vậy còn đáng quí gấp trăm bọn tự xưng là “cách mạng” mà tư cách đê tiện.

Có ai chép Ba đào kí cho thời đại này không nhỉ? Trong tập kí đó dày ít gì cũng vài ngàn trang, truyện buồn rất nhiều mà truyện vui cũng không thiếu, truyện nào cũng cảm động, đánh dấu một thời và làm bài học cho đời sau được.

❀❀❀

NGƯỜI TA ĐÃ NHẬN ĐỊNH SAI

Vậy dù có lạc quan tới mấy cũng phải nhận rằng công việc xã hội hóa miền Nam này tới nay đã thất bại. Chỉ mới dựng được cái sườn thôi mà đã có nhiều dấu hiệu tỏ rằng sườn đó đã nghiêng ngả: rất nhiều cán bộ đã hủ hóa, hùng hục làm giàu bằng mọi cách, thành một bọn tư sản rồi, tinh thần quân đội đã sa sút, hợp tác xã nông nghiệp đã thất bại, chính sách kinh tế mới phải bãi bỏ; một vài địa phương đã rụt rè lập lại chế độ tư bản: cho dân mặc sức kiếm lợi, cho chợ trời tha hồ phát triển, cho tăng giá xe đò, cho mua xăng và dầu lửa tự do, giá gấp mấy chục lần giá chính thức. Xí nghiệp đánh cá Côn sơn dùng chính sách chia lời; hễ nộp đủ số cá cho chính phủ rồi thì làm thêm được bao nhiêu, được chia nhau hưởng. Chỉ trong một hai năm, xí nghiệp phát triển rất mạnh, mua thêm được mấy chục chiếc tàu mới, thuyền trưởng được chia 2.000 đồng một tháng, thủy thủ 1.500 đồng ( lương bộ trưởng chỉ khoảng 200 đồng ); chính phủ thấy vậy buộc họ chỉ được tiêu một phần ba số đó còn thì phải gửi ngân hàng, nhưng không biết họ có tuân không.

Ngành nào cũng kẹt, kẹt cứng, chính quyền không biết xoay xở ra sao, vá chỗ này thì toạc chỗ khác, càng dùng những biện pháp nhất thời thì càng lúng túng. Ngay các cán bộ trung kiên cũng phải nhận rằng tình hình mấy năm sắp tới con nguy kịch hơn, chỉ còn trông cậy vào việc tìm mỏ dầu ở ngoài khơi Vũng tàu. Nếu trong ba năm nữa không tìm được mỏ nào có thể khai thác mà có lợi, không sản xuất được dầu thô thì tương lai dân tộc sẽ ra sao? Mà nếu tìm được thì lại phải chịu cái nguy khác: rất có thể Việt nam thành nơi tranh chấp về dầu giữa các cường quốc. Thật bi đát.

Chỉ tại người ta đã tính lầm. Thắng được Mĩ rồi, người ta tin rằng sẽ làm bá chủ bán đảo Đông dương, không nhận định được đúng tình tình thế giới.

Người ta nhận định sai tài năng, đạo đức, tinh thần hi sinh của cán bộ, tưởng rằng cao lắm và có thể dễ dàng kiến thiết miền Nam thành một xã hội xã hội chủ nghĩa, không ngờ cán bộ tuy rất đông mà rất kém cỏi về mọi mặt, mà tối đại đa số không ưa xã hội chủ nghĩa, thích đời sống miền Nam hơn.

Người ta nhận định sai về tình trạng miền Nam. Trước ngày 30-4-1975, miền Nam rất chia rẽ: nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kĩ thuật, nghệ thuật, văn hóa; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc…; cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ, ít gian tham ( tôi nói số đông ), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm ( 7 ) chứ đừng nói là người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên. Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là ngụy hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là ngụy với nhau mà!

Như vậy mà đưa cán bộ Bắc vào cai trị họ, dạy chính trị họ thì làm sao không thất bại? Bọn đó quê mùa, ngu dốt, nghèo khổ, vụng về, tự cao tự đại, bị người Nam khinh ra mặt, mỉa mai; lớp dạy chính trị cho dân chúng mỗi ngày một vắng, hiện nay cả năm không họp một lần.

Một thất bại nặng nề của cách giáo hóa đó là báo Nhân dân không ai đọc, người ta mua về để bán “ve chai”, ngay cả bộ Lénine toàn tập cũng vậy.

Sau 5 năm, cả triệu cán bộ và thường dân Bắc vào Nam mà Bắc Nam miễn cưỡng sống với nhau, lơ là với nhau, Nam coi Bắc là bọn thực dân, tự coi mình là bị trị. Làm gì có sự hợp tác?

Ông Hồ Chí Minh rất sáng suốt, từ 1962 đã thấy sự thống nhất Việt nam không có lợi mà gây rất nhiều vấn đề khó khăn, chỉ tạo gánh nặng cho Bắc ( coi lại cuối chương XXI ). Nếu 1975 ông còn sống thì chắc ông để cho miền Nam trung lập ( đúng như lời tuyên bố của Mặt trận giải phóng khi mới vô Sài Gòn ), làm một cửa sổ ngó ra thế giới bên ngoài, mà sẽ mau thịnh vượng lợi chẳng những cho Nam mà cả cho Bắc nữa. Những người nối nghiệp ông tự cho là khôn hơn ông.


Tài liệu và chú thích của cụ Nguyễn Hiến Lê:

( 1 ) Kravchenko, J’ai choisi la liberté. Trang 114 (Seft-1948).

( 2 ) Tháng 7 năm 1981, lương đã được tăng gấp hai, nhưng chính phủ cho tay này thì lấy lại bằng tay khác: giá nhu yếu phẩm, vé xe đò, tem gởi thư… cũng tăng lên như vậy, có thứ tăng gấp 10 nữa.

( 3 ) Tháng 8-1980, một cán bộ giáo dục ở Hà nội vào bảo tôi bây giờ họ phải ăn độn 90%, cực khổ hơn những năm 1973-1974 nhiều lắm, mà tình trạng đó còn kéo dài lâu. Thân phận không bằng con heo ở trong Nam.

( 4 ) Thời này nước mình xuất nhiều ca dao và truyện tiếu lâm, hơn thời cuối Lê nữa; trong một đoạn ở sau về Phong trào vượt biên, tôi sẽ chép một truyện tiếu lâm. Nghe nói đã có người thu nhập những ca dao và truyện tiếu lâm đó để lưu lại.

( 5 ) Do đó mà có câu mỉa mai này: vá ruột xe máy thì được 3 đồng mà vá ruột người chỉ được 8 hào.

( 6 ) Coi phụ lục “Kinh hoàng trên đảo Kokra” ở cuối bộ.

( 7 ) Một thím làm tổ phó lo về đời sống, được công an phường gọi đi học tập. Mới hết buổi đầu, thấy công an chỉ dạy cách dò xét, tố cáo đồng bào (ăn uống ra sao, chỉ trích chính phủ không, khách khứa là hạng người nào…), thím ta xin thôi liền, về nói với bạn: “Tôi không làm công việc thất đức đó được!” Lớp học đó bỏ luôn.

Ai đổi tên Sài Gòn thành Thành Phố Hồ Chí Minh?

Cái đám Cộng Sản Đệ Tam của Nam Kỳ đã đổi tên Sài Gòn thành tên cái xác thối.

Sau ngày 30/04/1975, với khí thế tưng bừng và đề nghị của đám cách mạng lão thành, ông Võ Văn Kiệt xin quốc hội và chính phủ trung ương đổi tên thành phố Sài Gòn Gia Định thành Thành Phố Hồ Chí Minh. Quan điểm của chủ tịch Quốc Hội lúc bấy giờ là Trường Chinh không tán thành, nhưng rồi sau cuộc họp ngày 02/07/1976, Quốc Hội cũng đã thông qua!

Thực ra ý tưởng đổi tên đã có từ lâu, người khởi xướng là bác sĩ Trần Hữu Nghiệp.

Tháng Ba năm 1946, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp được lãnh đạo Khu 8 và tỉnh ủy Bến Tre cử ra Bắc báo cáo với trung ương, tham gia vào đoàn vượt biển còn có bà Nguyễn Thị Định, giáo sư Ca Văn Thỉnh, ông Nguyễn Văn Khước. Ông Nghiệp được giữ lại Hà Nội tiếp tục công tác đến năm 1947.

Ngày 25/8/1946, Phòng Nam bộ Trung ương nhóm họp tại đường Gia Định, nay là đường Trần Nhật Duật. Tại cuộc họp đó, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đưa ra ý tưởng lấy tên Hồ Chí Minh đặt cho Sài Gòn-Gia Định. Ý tưởng nhanh chóng được hưởng ứng. Một ngày sau, 57 người miền Nam đang tham gia cách mạng gửi một bản quyết nghị lên Quốc Hội và Chính Phủ.

“Xin Quốc hội và Chính phủ đổi ngay tên thành phố Sài Gòn lại là tên thành phố Hồ Chí Minh để tượng trưng sự chiến đấu, hy sinh và cương quyết trở về với Tổ Quốc của dân Nam Bộ” – bản quyết nghị viết.

57 người ký tên, trong đó có Cục Trưởng Quân Y Trần Hữu Nghiệp, vị bác sĩ giàu có từng sở hữu bệnh viện tư ở Mỹ Tho, bỏ danh vọng đi theo cách mạng; Trần Công Tường ( luật sư ) sau này làm Thứ Trưởng Tư Pháp; Nguyễn Tấn Gi Trọng ( Phó Cục Trưởng Quân Y ) người giữ ghế đại biểu Quốc Hội Việt Nam 7 khóa sau đó.

( Nguồn tổng hợp )

Nguồn ( không còn tồn tại ):

Vu Ngo Vinhhttps://www.facebook.com/groups/1051752364862874/permalink/4525289527509123/

❀❀❀

Phụ chú của hoangkyblog:

Khoảng thời gian trong bài báo là khi Hồ C Minh sang Paris ký “Thỏa Hiệp Án Fontainebleau”, bán đứng Việt Nam cho Pháp, để Pháp trở lại Việt Nam, sử dụng tình hình rối ren để tiêu diệt cách đảng phái quốc không cộng sản!

Thằng Hồ C Minh là tội đồ của dân tộc Việt Nam.

Thỏa Hiệp Án Fontainebleau 14/09/1946: ông Hồ cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng quốc gia. Tác Giả: Hứa Hoành.


Lý do, ông Hồ tạm hòa với Pháp, để tiêu diệt người cùng đoàn kết với mình trong chính phủ liên hiệp. Ðó là ý đồ thầm kín của ông Hồ và thực dân Pháp.

[
Bài viết này có lẽ được tác giả Hứa Hoành hoàn tất vào ngày 26/09/2002. Được Dân Chủ dot Net đăng lại, trang web này nay không còn nữa. Trang http://www.geocities.ws/xoathantuong/hh_14946.htm đã đăng lại.
]

Kéo rốc sang Pháp làm gì?

Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến nay, còn nhiều bí ẩn chưa được giải tỏa. Người bàng quan, các thế hệ sau, sẽ không thấy được những âm mưu thầm kín của ông Hồ đã tiêu diệt người quốc gia, nếu như chúng ta không phát hiện được những bí mật lịch sử đó. Chúng tôi may mắn được nhà sử học Chính Ðạo, tức tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu, cho phép sử dụng nhiều tài liệu quý giá mà ông sao lục từ các văn khố, thư viện của bộ Thuộc Ðịa, bộ Ngoại Giao Pháp… để làm sáng tỏ nhiều uẩn khúc lịch sử, vốn bị cộng sản che giấu, nhiễu loạn từ hơn nửa thế kỷ qua. Chúng tôi chân thành cảm tạ tiến sĩ Chiêu. Trong loạt bài nầy, chúng tôi sẽ trưng bằng chứng về những hành vi phản bội quyền lợi dân tộc của ông Hồ. Nổi thao thức của ông Hồ lúc nầy là Việt Minh phải mắm chính quyền, không chia xẻ, nhượng bộ cho bất cứ đảng phái nào. Ðó là đường lối nhất quán, trước sau như một của đảng cộng sản. Ðây cũng là dự mưu, từ khi ngoài rừng núi Tân Trào kéo về Hà Nội. “Căn cứ vào kết quả của cuộc thảo luận của ông Hồ cùng các cán bộ, thấy rằng công cuộc phát triển cách mạng của họ sẽ dẫn đến 2 trường hợp:

  1. Một là đủ sức cướp chính quyền, bản thân họ có đủ điều kiện để đàm phán bình đẳng các vấn đề với các nước Ðồng Minh…
  2. Hai là lực lượng bản thân ( Việt Minh ) còn yếu kém… Việt Minh phải suy nghĩ đến việc cùng với nước Pháp tiến hành đàm phán, để tranh thủ một số quyền lợi và tự do dân chủ. Sau đó sẽ dùng những quyền lợi nầy làm vốn liếng để tuyên truyền, rồi tiến thêm một bước, đẩy tới cuộc vận động cách mạng, để tiếp tục đấu tranh với Pháp…”.

Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc, Thượng Huyền dịch, trang 339.

Hiểu rõ chiến lược của ông Hồ, cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi đối với kẻ thù chính là Pháp, thì ông Hồ tiếp tục nhân nhượng từ quyền lợi nầy đến quyền lợi khác. Ðang tuyên bố là một quốc gia độc lập, tự do ( 02/09/1945 ), vài tháng sau, ông Hồ xin làm một “quốc gia tự do trong Liên Hiệp Pháp” ( tức đế quốc trá hình ), và cho Pháp mọi quyền lợi đầy đủ tại Việt Nam như thời thuộc địa. ( Xem nội dung Thỏa Hiệp Án 14/09/1946 ). Chủ trương của ông Hồ lúc nầy ( 1946 ) là dựa vào Pháp, cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng quốc gia anh em, đang chia xẻ quyền hành với ông trong “chính phủ liên hiệp”, mà ông đã vật vã van nài. Cấu kết với Pháp để tiêu diệt người quốc gia tức là chủ trương “liên kết với A đánh B”. “Ông Hồ thà nhường cho Pháp thống trị Việt Nam thêm một thời gian nữa, chứ không muốn các đảng phái quốc gia đứng ra lãnh đạo một nước Việt Nam độc lập”, hoặc chỉ tham gia với Việt Minh để “đoàn kết chống Pháp” như ông đã hùng hổ kêu gọi.

Tất cả hành động của ông Hồ đều trước sau như một, nhằm giành lấy sự độc quyền lãnh đạo đất nước, đặng mấy năm sau tiến hành cuộc cách mạng vô sản, đưa toàn dân vào quỹ đạo cộng sản quốc tế. Vấn đề Việt Nam có sớm được độc lập hay không chỉ là thứ yếu. Quyền lợi dân tộc cũng chỉ là bình phong để ông Hồ thực hiện âm mưu nắm chặt chính quyền. Người quốc gia có thể nhìn thấy thủ đoạn của ông Hồ, hoặc nóng lòng vì độc lập tự do, nên đã “đoàn kết trong mặt trận Việt Minh”, để rồi tất cả chịu chung số phận oan nghiệt.

Sau ngày 02/09/1945. Việt Nam trở thành quốc gia độc lập thật sự, mà kẻ thù chính là thực dân Pháp còn ở xa. Với Hiệp Ước Sơ Bộ ( 06/03/1946 ), ông Hồ mời quân Pháp vào chiếm đóng Hà Nội và nhiều tỉnh miền Bắc.

Ðó là một trọng tội trong lịch sử. Ông cần rảnh tay để đối phó với các đảng theo chủ nghĩa quốc gia dân tộc. Ðể che giấu chủ trương bắt tay với kẻ thù, ông Hồ tuyên bố chính sách “văn hóa Pháp Việt đề huề” ( Điều 3 Thỏa Hiệp Án ), ca tụng “nước Pháp mới” ( nước Pháp của thực dân ) và Liên Hiệp Pháp, tức đế quốc trá hình. Nổi thao thức của ông Hồ lúc này ( 1946 ) là không muốn bất cứ một tổ chức hay cá nhân nào ngoài Việt Minh nắm quyền, hay chia xẻ quyền hành với Việt Minh. Hiểu như thế nên chúng ta mới không ngạc nhiên khi đối với kẻ thù chính là Pháp, thì ông ta đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác. Vừa mới tuyên bố độc lập, ông Hồ lại chịu nép mình trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp, và cho Pháp có đầy đủ quyền lợi như thời thuộc địa. Thái độ của ông Hồ lúc nầy là dựa hẳn vào Pháp, cấu kết với Pháp, để tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Nếu thực tâm yêu nước và chiến đấu vì quyền lợi quốc gia dân tộc, ông Hồ và mặt trận Việt Minh đã tích cực chuẩn bị kháng chiến khi Pháp chưa trở lại Việt Nam. Ông đã bỏ phí thời gian ( 15 tháng, năm 1945-1946 ) mà còn phá nát thế đoàn kết chiến đấu của những đảng quốc gia đang “liên hiệp” với ông trong cái chính phủ do ông làm chủ tịch. Ðiều này có nghĩa vì sự độc quyền lãnh đạo của Việt Minh, mà ông Hồ đã phá nát thế đoàn kết kháng chiến chống Pháp, làm cho thế lực Việt Nam yếu đi, nhưng ông vẫn làm, vì sự độc quyền lãnh đạo của Việt Minh.

Giữa lúc tình thế đất nước rối ren, chính cá nhân ông Hồ cùng mấy chục bộ trưởng dân biểu không thuộc cộng sản, kéo rốc sang Pháp để tham quan, để thăm thiện chí, mà thực sự tình thế nước Pháp cũng lâm cảnh tang gia bối rối ( chính phủ Gouin vừa mới đổ, còn chính phủ mới Bidault chưa thành lập ), lại phải đón tiếp một vị khách bất đắc dĩ trong khi tình thế nội bộ chưa ổn định. Phái đoàn thiện chí của Hà Nội gồm 10 vị, do Phạm Văn Ðồng cầm đầu, gồm có: Phạm Văn Ðồng, ( Bộ Trưởng ) Trần Ngọc Danh ( Dân Biểu Cần Thơ do cộng sản chỉ định ), Ðỗ Ðức Dục ( Bộ Trưởng ), Nguyễn Mạnh Hà ( Bộ Trưởng ), Nguyễn Văn Luân ( Dân Biểu ), Trình Quốc Quang, Tôn Ðức Thắng, Huỳnh Văn Tiểng, Hoàng Tích Chu, Nguyễn Tấn Di-Trọng. Rồi phái đoàn tham dự hội nghị Fontainebleau gồm trên 20 vị vừa bộ trưởng, vừa dân biểu. Giữa lúc đó, Pháp đã đưa quân vào Hà Nội, kéo đi chiếm đóng Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hải Dương, tích cực chuẩn bị đè bẹp kháng chiến. Tình hình kháng chiến Nam Bộ gần như bị đè bẹp hoàn toàn. Ðầu Tháng Hai, năm 1946, Pháp kiểm soát hoàn toàn tất cả 21 tỉnh Nam Bộ và mấy tỉnh Nam Trung Bộ. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, một nhà Nho nổi tiếng yêu nước, ngay thật, không biết thủ đoạn chính trị, được ông Hồ cử làm quyền chủ tịch nước, chỉ để tượng trưng. Mọi việc đều được trung ương đảng gồm Trường Chinh, Trần Ðăng Ninh, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Kháng… cùng với Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, cứ theo kế hoạch bí mật của ông Hồ mà thi hành. Chính Trung Ương Đảng thảo kế hoạch bí mật để khủng bố, tàn sát đẫm máu các đảng quốc gia, mới “liên hiệp” với Việt Minh.

Có người binh vực cho rằng khi ông Hồ sang Pháp, không chịu trách nhiệm về tình hình xảy ra tại quê nhà. Lý luận như thế là sai lầm. Ông Hồ ra chỉ thị mật, nhận báo cáo của Trung Ương Đảng hàng đêm. Ðây là bí mật lịch sử tới nay ít ai biết. Pierre Celérier viết trong “Menace sur le Vietnam” ( 1950 ): “Phái đoàn Việt Nam đi dự hội nghị Fontainebleau có đem theo chuyên viên vô tuyến điện, để đánh tin và bắt tin từ Việt Nam. Nhà chức trách tại Paris biết được bằng cớ về sự chuyển tin và báo tin, nhưng không thể phá vỡ được trên đất Pháp”. Hơn nữa, người Pháp biết ông Hồ chỉ khủng bố người quốc gia, chớ không tấn công quân Pháp, nên làm ngơ, vui mừng là khác. Ngày 01/06/1946 ông Hồ nhận tin Việt Minh tấn công quân Ðồng Minh Hội tại Phủ Lạng Thương, Ðồng Mỏ, Lạng Sơn.

Hạ tuần Tháng Sáu, năm 1946, các cơ sở Quốc Dân Ðảng tại Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, ( Xem thêm Hoàng Tường, Việt Nam Ðấu Tranh, từ trang 89-101 ), bị tập kích với lực lượng đông gấp 10 lần, bị Việt Minh bao vây, tuyệt lương, rồi tỉa dần từng toán nhỏ. Quá tuyệt vọng, các ông Nguyễn Tường Tam ( Bộ Trưởng Ngoại Giao ), Nguyễn Hải Thần ( Phó Chủ Tịch Chính Phủ ), Vũ Hồng Khanh, Phó Chủ Tịch Quân Ủy Hội đều bôn đào sang Trung Hoa lần nữa. Các đơn vị do Vũ Hồng Khanh, bị tập kích từ Lào Cay, Phong Thổ, khiến cho khoảng 600 quân Việt Nam Quốc Dân Ðảng tan rã, cuối cùng, rút theo ngả Vân Nam. Ðó là “thế đoàn kết”, “liên hiệp” với Việt Minh, một kinh nghiệm máu xương trong lịch sử. Ngoài ra, hàng ngày, tại Hà Nội, Việt Minh khủng bố, bắt cóc, thủ tiêu đối lập như đảng mafia: Hoàng Ngọc Bách, Nguyễn Bạch Vân, Trần Quốc Lạc, Hoàng Tử Quy đều bị ám sát chết. Ðọc lịch sử giai đoạn nầy, nhiều người không hiểu tại sao Việt Minh lại tiêu diệt những người quốc gia trong chính phủ của họ. Lý do thứ nhứt, Việt Minh là cộng sản trá hình. Lý thuyết cách mạng của Mác Xít đã dạy: “Cuộc đấu tranh cho giai cấp vô sản, dù về mặt nội dung, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu phải mang hình thức đấu tranh dân tộc… Ðương nhiên và trước hết, giai cấp vô sản phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình trước đã” ( Mác Angen tuyển tập, NXB Sự Thật Mátcơva 1978, trang 555, tập 1. Dẫn lại của luật sư Nguyễn Văn Chức ). Thứ hai, để thực hiện con đường cách mạng vô sản, ông Hồ phải làm sao cho đảng cộng sản ( tức Việt Minh ) phải nắm được chính quyền hoàn toàn, để lần lượt đưa dân tộc và đất nước đi vào quỹ đạo cộng sản quốc tế. Ông Hồ đã nói với cán bộ: “Lúc nầy nước Pháp không phải là kẻ thù trước mắt. Bọn Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Ðồng Minh Hội, Cao Ðài, Hòa Hảo trong Nam… mới là kẻ thù không đội trời chung”. Người quốc gia không hiểu sách lược của cộng sản nên trở thành nạn nhơn của cộng sản.

Việt Minh mở chiến dịch “tổng ruồng, vét sạch” từ Nam chí Bắc. Họ lùng sục bắt giam, tra tấn, thủ tiêu những người quốc gia, kể cả những đại biểu quốc hội mà họ chia ghế như Lê Khang ( Lê Nin ), nhà văn Khái Hưng, Nguyễn Mạnh Côn… ( bị bắt, sắp giết… ).

( Chú thích của hoangkyblog: văn hào Nguyễn Mạnh Côn, tác giả của “1945 Lạc Đường Vào Lịch Sử”. )

Lê Khang, Chủ Nhiệm Đệ Tam Khu Bộ Việt Nam Quốc Dân, nằm bệnh viện Ðặng Vũ Lạc trước ga Hàng Cỏ, bị Việt Minh đến bắt đem đi, rồi giết ở Vĩnh Yên. Còn các ông Phạm Tất Thắng, Nguyễn Tắc Chung, Nguyễn Quỳnh ( Dân Biểu Nam Ðịnh ), đảng trưởng Ðại Việt Trương Tử Anh… đều bị Việt Minh sát hại. Nhà văn Khái Hưng bị bắt ở Liên Khu 3, rồi bị trấn nước chết tại bến đò Cựa Gà, phủ Xuân Trường, vào năm 1947. Ðó là “đoàn kết trong mặt trận Việt Minh”. Tại miền Trung và Nam Bộ, đều thi hành một chính sách khủng bố man rợ như vậy. Những năm đó, Việt Minh tung công an chìm rình rập, bắt bớ những phần tử mà họ cho là nguy hiểm, đem giam “để điều tra”, hoặc thủ tiêu trong đêm bằng hình thức chặt đầu, mổ bụng, trói thúc ké thả trôi sông.

Về chính trị, Việt Minh nhân danh chính phủ liên hiệp, buộc các báo của các đảng quốc gia như “Việt Nam”, “Thiết Thực” phải nạp bản kiểm duyệt trước khi phát hành. Tóm lại, chủ trương của Việt Minh là tận diệt đối lập, là bịt miệng, trói tay, bí mật thanh toán, rồi ngụy tạo bản án “Việt gian”, “phản quốc”, “thổ phỉ” như vụ án Ôn Như Hầu, vụ án Cầu Chiêm Sơn ( xem thêm Hoàng Văn Ðạo, Việt Nam Quốc Dân Ðảng, trang 362-363 ). Ðó là chủ trương thầm kín để tiêu diệt các đảng phái quốc gia của ông Hồ khi kéo rốc qua Pháp để tránh tiếng.

Cũng xin nhắc thêm về hành động “hợp tác rồi khủng bố”, trở mặt như trở bàn tay của Việt Minh tại Hà Nội.

Ngày 18/06/1946, Việt Minh hợp tác với Việt Nam Quốc Dân Ðảng để tổ chức lễ kỷ niệm Phạm Hồng Thái ( ngày 19 Tháng Sáu ), và Nguyễn Thái Học ( ngày 17 Tháng Sáu ). Qua ngày 11/07/46, Việt Minh đem quân bao vây tiêu diệt các thành phần mới vừa hợp tác mấy hôm trước. Lúc 6 giờ chiều Việt Minh bố ráp trụ sở Việt Nam Quốc Dân tại trường Tiểu Học Ðỗ Hữu Vị, bắt hết đối lập, lục soát báo quán “Việt Nam” kế đó tới vụ dàn cảnh “vụ án Ôn Như Hầu”. Ông Hồ biết rõ Việt Minh đã để lộ chân tướng cộng sản, nên không được Anh, Mỹ cảm tình. Nếu tiếp tục giữ mặt trận Việt Minh, sẽ thất bại trong hội nghị sắp tới tại Fontainebleau, vì thế ông Hồ ra lịnh gấp rút tổ chức một mặt trận khác, để gom hết nhân dân vào một khối, do ông ta và đảng cộng sản nắm chặt, nhưng bên ngoài có tính “quốc gia” hơn. Trần Huy Liệu được căn dặn tổ chức “Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam”, gọi tắt là “Liên Việt” nhằm mục đích trên. Còn Võ Nguyên Giáp được lịnh ở lại với nhiệm vụ bí mật là khủng bố tất cả người quốc gia. Ông còn ra lịnh cho Giáp “hãy hy sinh tất cả để mua thật nhiều súng của quân đội Trung Hoa sắp rút đi”. Thứ hai là vận dụng tất cả khả năng để tiêu diệt những người quốc gia.

Thời gian hơn 4 tháng, ông Hồ qua Pháp ( chưa có một chuyến công du, thăm viếng thiện chí của bất cứ nguyên thủ quốc gia nào quá lâu như vậy ), Trung Ương Đảng thi hành kế hoạch mật khủng bố, ám sát, thủ tiêu, hoặc bao vây tiêu diệt quân đội Quốc Dân, Ðồng Minh Hội. Các việc làm nầy phải báo cáo với ông Hồ tại Pháp hàng đêm. Còn “Hội Liên Việt” tức hội “Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam”, thì ông Hồ quỷ quyệt rút tên ra, chỉ làm chủ tịch danh dự. Ông lừa nhà Nho yêu nước Huỳnh Thúc Kháng làm chủ tịch, để lôi kéo những thành phần quốc gia vào mặt trận. Phó chủ tịch là Tôn Ðức Thắng ( cộng sản ). Tổng thơ ký là Cù Huy Cận ( cộng sản ). Các ủy viên là bác sỹ Phạm Ngọc Thạch, trước ở Sàigòn là quốc gia, sau ra Hà Nội bi nhuộm đỏ! ( Hồi Ký Nam Ðình, trang 341 ). Trần Huy Liệu, ủy viên tổ chức ( cộng sản ), chỉ một nhân vật không cộng sản, thuộc Công Giáo là Ngô Tử Hạ, bị đưa vào làm bình phong và tay sai.

Tại mỗi làng, mỗi tổng, mỗi tỉnh đều có một ủy ban lãnh đạo mặt trận “Liên Việt” do cộng sản nắm giữ. Ngày 12/06/1946, ông Hồ và phái đoàn tới Biarritz, phía Nam nước Pháp, chờ đợi Pháp thành lập chính phủ mới, vì chính phủ Gouin đã đổ. Tình hình nước Pháp đang rối ren mà ông Hồ nhứt định công du, điều đó chứng tỏ ý đồ thầm kín của ông là muốn lánh mặt khỏi Việt Nam, để bọn đàn em tiêu diệt Quốc Dân Ðảng và Ðồng Minh Hội. Gần hai tuần sau, tân chính phủ Bidault được tấn phong. Sainteny đưa ông Hồ lên Paris. Trong hồi ký “Histoire d’une paix manquée”, tác giả Sainteny kể lại: “Hồ Chí Minh hai tay run, nói bên tai tôi:

— Anh đừng rời tôi! Thiên hạ đông quá!

Sử gia Philippe Devillers phê bình: “23 năm trước, Hồ Chí Minh từ giả Paris như một người bị trục xuất, nay ông ta trở lại đây với tư cách chủ tịch một chính phủ ( do quốc hậu bầu cử gian lận tấn phong ), quả thật là một định mệnh”. Ðây cũng là lý do thầm kín để ông Hồ công du qua Pháp, như trả thù lúc ông ta làm bồi tàu, làm bếp khách sạn, bị bạc đãi. Rồi các cuộc đón tiếp diễn ra theo nghi thức quốc trưởng: ông đến thăm Khải Hoàn Môn, đền Versailles, Tòa Thị Chính, L’Opera, Đài Chiến Sĩ Trận Vong… đi tới đâu cũng có đoàn xe mô tô hộ tống và dẫn đường.

Bí mật thương thuyết thỏa hiệp án, Hội Nghị Fontainebleau thất bại

Trong khi chuẩn bị hội nghị Fontainebleau, và trong lúc tiếp diễn ( từ 06/07/1946 tới 10/09/1946 ), ông Hồ cử người đi đêm thương thuyết với Pháp, chấp thuận nhiều nhượng bộ về quyền lợi cho Pháp, nên tại hội nghị, Pháp giữ lập trường cứng rắn. Hai bên về mặt công khai, không thỏa thuận điều gì, nên thất bại. Lý do là tại ông Hồ muốn dựa vào Pháp, nhưng lại sợ dư luận công khai biết. Mãi đến khi hội nghị sắp kết thúc, đêm 10/09/1946, ông Hồ thương thuyết bí mật với các phái viên của văn phòng chính phủ Bidault. Hai bên đã thỏa thuận trên căn bản nhiều vấn đề, ngoại trừ vấn đề Nam Bộ. ( Chính Ðạo, Việt Nam Niên Biểu, Tập 1A, trang 347 ). Xin nhắc lại chương trình nghị sự của hội nghị Fontainebleau gồm 4 điểm:

  1. Thống nhứt Việt Nam ( Hội nghị đồng ý để có cuộc trưng cầu dân ý quyết định ).
  2. Vấn đề quan thuế.
  3. Ðại diện ngoại giao.
  4. Văn hóa.

Ba vấn đề sau, đã được ông Hồ chấp thuận hoàn toàn theo đề nghị của Pháp. Tài liệu lích sử của ông Nam Ðình Nguyễn Kỳ Nam, trang 350 ghi lại như sau: “Ngày 11/07/1946, phái đoàn Pháp đưa cho phái đoàn Việt Nam một văn kiện giải thích ‘Liên Hiệp Pháp’ là một tổ hợp có nhiều xứ liên quan với Pháp mà thôi. Còn Liên Bang Ðông Dương là một ‘Hiệp Chủng Quốc’ Phái đoàn Việt Nam phúc đáp ngày 12/07/1946: ‘Việt Nam nằm trong Liên Hiệp Pháp là một sự hợp tác tự do, bằng nhau về mọi phương diện và quyền lợi. Còn Việt Nam trong Liên Bang Ðông Dương tức là Việt Nam trong phạm vi kinh tế, tài chánh’. Như vậy, về công khai giữa hội nghị, hai phái đoàn khác nhau về lập trường đối với Liên Bang Ðông Dương và Liên Hiệp Pháp, nhưng trong bí mật, ông Hồ đã chấp thuận tất cả. Như vậy làm sao Pháp nhượng bộ điều gì? Cùng ngày 12/07/1946, để trấn an dư luận, Hồ Chí Minh họp báo, giải thích: ‘Giữa Pháp và Việt Nam sẽ có một hiệp ước riêng ( tức Thỏa Hiệp Án 14/09/1946 ) mà Pháp phải nhìn nhận nguyên tắc “Dân tộc tự quyết.

Còn vấn đề Liên Bang Ðông Dương, là vì Ðông Dương gồm có Miên và Lào, nên cơ quan nầy đang hợp tác nhau về mặt kinh tế thôi, chớ đừng lập lại chế độ Toàn Quyền trá hình ( sự thật là như vậy )… Về ngoại giao, Pháp muốn Việt Nam chỉ biết có Pháp mà thôi. Còn Việt Nam thì bảo rằng ‘đã là một nước độc lập, thì Việt Nam phải có bộ ngoại giao riêng, trực tiếp với các nước khác’. Về chính trị, phái đoàn Pháp bảo rằng ‘đó thuộc về thẩm quyền của chính phủ Pháp, phái đoàn Pháp chỉ biết chuyển nghị án của Việt Nam lên chính phủ Pháp mà thôi’. Trong lúc lập trường hai phái đoàn không đồng ý điểm nào, thì Cao Ủy d’Argenlieu phá hội nghị bằng cách mở hội nghị Liên Bang Ðông Dương tại Ðà Lạt, từ ngày 23/07/1946, nhưng mãi đến 01/08/1946 mới khai mạc. Phái đoàn Việt Nam gồm 3 phần: Nam Kỳ Quốc với Ðại Tá Nguyễn Văn Xuân làm trưởng đoàn. Ông Nguyễn Văn Xuân bị ông Hồ lấy tên để trong ‘chính phủ lâm thời tự phong’ từ rừng sâu, mà không hỏi ý kiến, cũng chưa từng gặp gỡ, quen biết ( Buổi họp kín của 8 đảng viên cộng sản, ngụy tạo là ‘Quốc Dân Đại Hội Tân Trào’ ). Thủ đoạn này cũng giống như trường hợp bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, ông Hồ chỉ nghe mang máng là thủ lãnh Thanh Niên Tiền Phong, liền ‘chộp’ đại tên ‘Phạm Văn Thạch’ lồng trong danh sách thành viên ‘chính phủ’. Thêm một nhân vật khác là Lê Văn Hiến, mặc dù là cộng sản, nhưng cũng không thuộc phe ông Hồ, đang ở miền Trung, được ông Hồ mượn tên, gọi ‘Lê Quốc Hiến’, để trong danh sách ‘chính phủ lâm thời’, để dư luận hiểu lầm rằng những vị này có vô rừng Tân Trào họp ‘quốc dân đại hội’. Ðó là những sự kiện dối trá, cho tới nay rất ít người biết. Phái đoàn Việt Nam thứ hai là của sắc tộc Chàm, do ông Lưu Ái cầm đầu. Phái đoàn thứ ba của đồng bào Thượng ở vùng Ban Mê Thuột, do Ma Krong ( tù trưởng Ê Ðê ) và y sĩ Djac Ayun”, ( Chính Ðạo, Việt Nam Niên Biểu, Tập 1A, trang 345 ).

Như vậy, vùng rừng núi Việt Nam, bị Pháp xẻ làm nhiều “nước tự trị”, không kể Miên, Lào. Mãi đến ngày 07/09/1946, theo hồi ký của Nam Ðình, phái đoàn Việt Nam yêu cầu phái đoàn Pháp tạm ngưng những điểm khác, để thảo luận lại các vấn đề “kinh tế tài chính, quan thuế, hai phái đoàn trao đổi văn kiện, cùng nhau thảo luận đêm 9 rạng 10/09/1946. Hai phái đoàn làm việc suốt đêm, chờ sáng ngày 10/9/1946 sẽ thảo ra tạm ước” ( tức Thỏa Hiệp Án 14/09/1946 ).

Ðến khi tái nhóm, phái đoàn Việt Nam yêu cầu giải quyết nhiều vấn đề khác, như yêu cầu Pháp hứa chắc chắn và rõ rệt về ngày giờ và cách thức trưng cầu dân ý ở Nam Bộ. Pháp không chịu cam kết, Việt Nam không chịu ký “tạm ước về tài chính, quan thuế”. Thế là hội nghị tan vỡ. Phái đoàn xuống tàu Pasteur về nước ngày 16/09/1946… Còn Hồ Chí Minh… Sainteny kể lại rằng: “Hồ Chí Minh rời khách sạn Royal Monceau, xuống Soisy Sous Montmorency, tạm trú tại biệt thự của Aubrac, viện lẽ nên xa Paris vài ngày cho không khí bớt căng thẳng… Nhưng trước khi rời Paris, ngày 14/09/1946, Hồ đến viếng Marius Moutet, Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại, trao đổi thêm về bản Tạm Ước. Hồ Chí Minh cũng có đến thủ tướng Bidault tâm tình rằng: ‘Tôi làm sao ăn nói với các đảng đối lập với tôi, khi tôi về tay không?”.

Hồ C Minh và Marius Moutet đêm 14/9/1946 tại nhà riêng của Moutet, ký Thỏa Hiệp Án Fontainebleau.
Hồ C Minh và Marius Moutet đêm 14/9/1946 tại nhà riêng của Moutet, ký Thỏa Hiệp Án Fontainebleau.

Mãi đến nửa đêm ngày 14 rạng 15/09/1946, Hồ Chí Minh gõ cửa Moutet ở số 19 đường Courcelles, nhằm lúc Moutet còn thức.

— Tôi đến đây bằng lòng ký Tạm Ước ( Thỏa Hiệp Án ).

Thế là Tạm Ước được ký kết giữa Moutet và Hồ Chí Minh trong phòng ngủ của Moutet. “Hồ Chí Minh ra về, cùng đi với một thanh tra Pháp, đã đi theo hộ tống từ trước đến nay. Trong lúc đêm khuya lạnh lẽo, ông Hồ than với viên thanh tra mật thám Pháp:

— Tôi vừa mới ký một bản án tử hình của tôi!

Dưới đây là nguyên văn “Thỏa Hiệp Án” hay Tạm Ước 14/09/1946, được tờ báo Nam Kỳ số ra ngày 23/09/1946, đăng lại như sau:

═══════════════════════════════════════════════════

Nguyên văn bản Thỏa Hiệp Án:

Làm tại Paris ngày 14 Septembre 1946:

Thay mặt Chính Phủ Lâm Thời Pháp:

Tổng Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại.

Ký tên:

Marius Moutet.

Thay mặt chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam:

Chủ tịch chính phủ.

Ký tên:

Hồ Chí Minh.

Công nhận đúng theo bổn thảo

Tổng Thơ Ký Ủy Ban Ðông Dương

Ký tên:

Messmer.

“Toàn thể các điều dự định trong bản thỏa hiệp án nầy, làm thành hai bản, sẽ được đem ra thi hành vào ngày 30 Tháng Mười 1946.

Ðiều thứ I:

Kiều dân Việt Nam ở Pháp và kiều dân Pháp ở Việt Nam, sẽ được tự do sanh cư y như người bổn quốc, cùng những quyền tự do phát biểu, giáo dục, thương mại, thông hành. Tóm lại là tất cả tự do dân chủ.

Ðiều thứ II:

Sản nghiệp và xí nghiệp Pháp ở Việt Nam, sẽ không đặt dưới một chế độ gắt gao hơn chế độ dành cho sản nghiệp và xí nghiệp của người Việt Nam, nhứt là về thuế vụ và lao động pháp chế. Sự bình đẳng về quy điều này, sẽ được nhìn nhận bằng danh nghĩa đãi ngộ lẫn nhau, cho sản nghiệp và xí nghiệp của kiều dân Việt Nam, trong các lãnh thổ Pháp Quốc hải ngoại. Quy điều sản nghiệp và xí nghiệp Pháp ở Việt Nam, chỉ được sửa đổi bằng sự thỏa hiệp chung giữa Cộng Hòa Pháp và Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam.

Tất cả sản nghiệp Pháp bị chính phủ Việt Nam trưng thâu mà những tài chủ, hoặc những xí nghiệp bị nhà cầm quyền Việt Nam làm cho họ trở nên trắng tay, sẽ được quy hoàn cho những chủ nhơn và những người có quyền nhận lãnh.

Một ủy ban Pháp Việt sẽ được đề cử để quy định các thể thức quy hoàn nầy.

Ðiều thứ III:

Cho được phục hồi ngay bây giờ cuộc văn hóa giao tế mà Pháp Việt đồng muốn khuếch trương, các học đường Pháp, một vài đẳng cấp sẽ được tự do dạy ở Việt Nam.

Những học đường ấy sẽ áp dụng các chương trình chính thức Pháp. Về sau sẽ do hiệp định riêng mà chọn lựa những tòa nhà thích ứng cho sự dạy học của các học đường, những trường, những khoa học viện ở toàn cõi Việt Nam. Kiều dân Việt Nam ở Pháp cũng được hưởng y đặc quyền này. Y Viện Pasteur sẽ được phục hồi quyền lực và sản nghiệp của mình. Một ủy ban Pháp Việt sẽ quy định những điều kiện cho trường Viễn Ðông Bác Cổ hoạt động lại.

Ðiều thứ IV:

Mỗi khi có cần dùng những nhà cố vấn kỹ thuật và chuyên môn, thì chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam, phải gọi đến Pháp kiều trước nhứt. Ðặc quyền ban cho Pháp kiều chỉ không có hiệu lực là khi nào nước Pháp không thể cung ứng nhân viên mà Việt Nam yêu cầu.

Ðiều thứ V:

Liền sau khi giải quyết vấn đề điều chỉnh tiền tệ, hiện thời chỉ có một thứ bạc chung đem ra xài trong các lãnh thổ thuộc quyền chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam, và các lãnh thổ khác ở Ðông Dương. Thứ bạc ấy, chính là đồng bạc Ðông Dương, do nhà băng Ðông Dương phát hành hiện thời, để chờ lập ra một phát ngân viện. Ðiều lệ của cơ quan phát hành viện, sẽ do một Ủy Ban Pháp Việt nghiên cứu. Các nước có chơn trong liên bang, sẽ có đại biểu trong đó. Ủy Ban nầy còn có phận sự liên lạc tiền tệ và các sự mậu dịch. Ðồng bạc Ðông Dương được xài trong khu vực đồng phật lăng ( francs ).

Ðiều thứ VI:

Việt Nam sẽ cùng các xứ khác trong Liên Bang Ðông Dương, tạo thành một liên hiệp quan thuế. Tuy vậy, trong xứ sẽ không có một bức tường quan thuế nào cả. Việc xuất nhập lãnh thổ Ðông Dương đều dùng chung định giá. Một ủy ban liên lạc thương chánh và ngoại thương, cũng giống như ủy ban liên lạc tiền tệ và mậu dịch, sẽ nghiên cứu các biện pháp thi hành cần thiết và chuẩn bị tổ chức thương chánh ở Ðông Dương.

Ðiều thứ VII:

Một ủy ban Pháp Việt liên lạc về giao thông, sẽ nghiên cứu các biện pháp chánh để khôi phục và cải thiện cuộc thông thương giữa Việt Nam và các xứ khác trong Liên Bang Ðông Dương và Liên hiệp Pháp: vận tải đường bộ, đường biển, đường hàng không, sự thông gởi bằng bưu chánh, dây nói, điện tuyến và vô tuyến điện.

Ðiều thứ VIII:

Trong khi chờ đợi sự thành lập của bản hiệp ước hoàn toàn giải quyết xong vấn đề ngoại giao của nước Việt Nam với những nước khác, một ủy ban Pháp Việt sẽ định đoạt những điều giải hầu bảo đảm việc Việt Nam đặt lãnh sự ở các lân bang, và cuộc giao thiệp giữa lãnh sự ấy với các lãnh sự ngoại quốc.

Ðiều thứ IX:

Tha thiết bảo đảm càng sớm chừng nào càng hay chừng ấy, ở Nam Bộ và miền Nam Trung Kỳ, sự khôi phục một trật tự công cộng vừa cần thiết cho nguyện vọng tự do về các quyền tự do dân chủ vừa vãn hồi, và nhận định những phản động lực may mắn phát do sự ngưng những hành động xung đột và bạo động của đôi bên.

Chính phủ Pháp và chính phủ Cộng Hòa Việt Nam, đồng thảo các biện pháp sau đây:

  1. Ðôi bên chấm dứt tất cả những hành động xung đột và bạo động.
  2. Những hiệp định của các bộ tham mưu Pháp Việt, sẽ quy định các điều kiện thi hành và kiểm soát những biện pháp quyết định chung.
  3. Những tội phạm hiện còn bị giam cầm về nguyên do chính trị, sẽ được thả ra, chỉ trừ những kẻ bị truy tố về hình sự và thường phạm ( droit commun ). Với những tù binh bắt được trong các cuộc hành quân, cũng sẽ quy định y như thế. Việt Nam đảm bảo không truy tố bất cứ người nào đã cộng tác hoặc trung thành với Pháp Quốc, và chẳng dung tha bất cứ bạo hành nào chống những kẻ ấy. Bù lại, chính phủ Pháp cũng đảm bảo không truy tố bất cứ người nào cộng tác với Việt Nam, và không dung tha bất cứ bạo hành nào chống lại kẻ ấy.
  4. Việc hưởng các quyền tự do dân chủ giải thích ở điều khoản thứ I, sẽ được đôi bên đảm bảo lẫn nhau. Sẽ chấm dứt những sự tuyên truyền bất hữu ái của đôi bên.
  5. Chính phủ Pháp và chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam, sẽ cộng tác với nhau, để làm cho kiều dân các nước nghịch cũ, không làm hại gì được nữa.
  6. Một nhân vật do chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam đề cử, và được chính phủ Pháp công nhận, sẽ được gởi tới bên Thượng Sứ Pháp, để cộng tác và thi hành những điều thỏa thuận nầy.

Ðiều thứ X:

Chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam, đồng ý chung tìm cách ký kết những hiệp định riêng về tất cả vấn đề có thể đưa ra hầu thắt chặt tình hữu nghị, và dọn đường để ký kết một hiệp ước chung vĩnh viễn.

Cuộc thương thuyết sẽ tiếp tục về mục đích nầy sớm chừng nào càng hay, và trễ lắm là vào Tháng Giêng 1947.

Ðiều thứ XI:

Toàn thể những điều khoản trong “Thỏa Hiệp Án” nầy chia làm hai bản, sẽ được thi hành vào ngày 30 Tháng Mười 1946.”

═══════════════════════════════════════════════════

Ðọc qua nội dung, chúng ta thấy rõ Hồ Chí Minh nhượng bộ Pháp gần như đầy đủ các quyền lợi như hồi Việt Nam còn là thuộc địa của nước Pháp. Ở vào hoàn cảnh lúc đó, người ta mới thấy sự thiệt thòi của Việt Nam. Với hiệp ước tạm 14/09/1946 hay “Tạm Ước” nầy, nước ta chỉ hưởng được những từ ngữ mới “Nước Việt Nam Cộng Hòa Dân Chủ”, được tự do, còn sự thật, người Pháp nắm tất cả mọi ngành, từ chính trị, quân sự, ngoại giao, quan thuế, tiền tệ. Lý do thầm kín là ông Hồ cần dựa vào Pháp, cần cộng tác với Pháp, để có thì giờ tận diệt người quốc gia. Với đảng cộng sản lúc đó ( dù trên danh nghĩa giả bộ giải tán từ Tháng Mười Một, năm 1945 ), nước Pháp không phải là kẻ thù trước mắt. Các đảng Ðại Việt, Quốc Dân Ðảng, Ðồng Minh Hội, Cao Ðài, Hòa Hảo, Trotkyst… tuy là đồng bào ruột thịt, cùng một mục đích tranh đấu giành độc lập, nhưng bị ông Hồ và Việt Minh coi như thù địch không đội trời chung. Ðó là chính sách, đường lối của ông Hồ và mặt trận Việt Minh, rồi Liên Việt. Vì cần bảo vệ sự độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng Sản, ông Hồ phải bí mật tiêu diệt tả hữu, từ Trotkyst đến người quốc gia, không cho một mầm mống nào tồn tại.

Trong con mắt của ông Hồ thời đó, nước Pháp bấy giờ là “nước Pháp mới”, vì có tổng bí thư đảng cộng sản Pháp Maurice Thorez làm phó thủ tướng chính phủ. Trong chuyến đi Pháp lần này, ông Hồ còn đem theo 20kg vàng, tặng cho báo l’Humanité, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Pháp, để họ làm cái loa ủng hộ ông ta và đảng CSVN. Vì thế khi vừa đặt chân lên Paris, ký giả Simonne Terry của l’Humanité liền viết một bài “l’Oncle Hồ” ( Bác Hồ ), để ca ngợi ông ta. Sự thật chính cái “nước Pháp mới” đã đổ bộ vào miền Bắc Việt Nam, đưa quân chiếm các vị trí hiểm yếu, đang sẵn sàng đè bẹp các cuộc chống đối của kháng chiến Việt Minh. Ðiều này có hại cho dân tộc Việt Nam, nhưng có lợi cho riêng ông Hồ và đảng cộng sản của ông ta.

Hồi các năm 1945-1946, Việt kiều tại Pháp có đoàn kết, nhưng không suy tôn, thờ phụng Hồ Chí Minh như thần thánh, không làm lễ sinh nhựt của ông ta như đảng CSVN mong muốn. Họ ủng hộ Việt Minh trong chừng mực nào đó, và phản đối ông Hồ trong “Thỏa Hiệp Án 14/09/1946”, cũng như Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 06/03/1946.

Xin nhắc lại tình hình của người Việt tại Pháp hồi năm 1946. Khi ông Hồ sang Pháp, thì cộng đồng Việt kiều ở đây khoảng 14.000 ( mười bốn ngàn ) người, gồm lính thợ, công binh, một số ít gia đình, du học sinh có mặt ở Pháp. Cộng đồng Việt kiều có đoàn kết, nhưng không “đoàn kết trong mặt trận Việt Minh, không chịu nhận sự lãnh đạo của Việt Minh”. ( Xem thêm Ðặng Văn Long, Người Việt ở Pháp, trang VIII đến IX ). Cần phân biệt có hai thứ đoàn kết: Một là “đoàn kết trong mặt trận Việt Minh”, “đoàn kết chung quanh bác Hồ”. Còn đoàn kết theo nghĩa thông thường, để gây sức mạnh, thì lúc đó không còn nữa. Một người có nhiều kinh nghiệm về “đoàn kết” là ông Bùi Tín, viết: “Ðoàn kết trong mặt trận Việt Minh, trong mặt trận Liên Việt, hay trong mặt trận Tổ Quốc… có nghĩa là theo sự lãnh đạo của đảng cộng sản, vâng lời đảng cộng sản, chịu mọi sự áp đặt của đảng cộng sản. Nói khác với đảng, cãi lại đảng là ‘vi phạm tinh thần đoàn kết’, là nhằm cách phá vỡ khối đoàn kết, là có tội, có khi tội rất nặng” ( Mặt Thật, trang 120 ). Dù chưa có kinh nghiệm với Việt Minh, Việt kiều có lẽ cũng thấy rõ những âm mưu thầm kín của họ. Việt kiều chỉ đoàn kết để tranh giành độc lập cho nước Việt Nam, nhưng không tranh đấu dưới ngọn cờ của Việt Minh, của cộng sản.

Vì lẽ đó, khi vừa tới Pháp, ông Hồ tìm cách phá vỡ khối đoàn kết ( không chịu theo Việt Minh ). Ông tìm cách phá hoại sự đoàn kết của người theo chủ nghĩa quốc gia với những người Trotkyst, tức Cộng Sản Đệ Tứ, kẻ thù không đội trời chung của ông Hồ, tức Cộng Sản Đệ Tam. Tại Pháp, ông Hồ không thể dùng chính sách khủng bố để tiêu diệt những kẻ “không chịu đoàn kết trong mặt trận Việt Minh”. Ông Hồ sử dụng âm mưu về chính trị “kêu gọi công binh, Việt kiều hãy đoàn kết chung quanh bác Hồ”.

Sống lâu trên đất Pháp, người Việt nhiễm tư tưởng tự do, không bị gò bó như dưới chế độ thuộc địa. Họ tố cáo ông Hồ khi thấy ông để lộ gian ý “ủng hộ nước Pháp mới”, tức nước Pháp thực dân, chỉ vì có lãnh tụ cộng sản Pháp làm Phó Thủ Tướng chính phủ. Việt kiều cũng tố cáo “Liên Hiệp Pháp” chính là đế quốc trá hình mà ông Hồ không ngớt ca tụng…. Bây giờ, ông Hồ đường đường chính chính là chủ tịch nước, do quốc hội bầu cử gian lận ( xem Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi, trang 104 ) tấn phong. Ông Hồ tìm mọi cách dựa vào đảng cộng sản Pháp để nhờ họ giúp đỡ. Khốn nỗi, khi chưa chiếm được chính quyền, đảng cộng sản kêu gọi “hãy giải phóng các dân tộc thuộc địa”, giải phóng giai cấp bị bốc lột. Ðến khi Maurice Thorez trở thành Phó Thủ Tướng chính phủ, còn nhiều đảng viên trở thành Bộ Trưởng, thì cộng sản Pháp liền trở mặt: “Cờ đại Pháp phải được cắm lại trên các thuộc địa” ( Thorez ). Báo l’Humanité, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Pháp, số ra ngày 03/08/1944, ủy viên trung ương đảng cộng sản Pháp tuyên bố: “Nhân dân Pháp muốn rằng xứ Ðông Dương, cũng như các đại thuộc địa khác, sẽ trở về nước Pháp đầy đủ, không mất một tấc đất nào, để xây dựng một cộng đồng Liên Bang Ðại Pháp”. Tháng Giêng, năm 1945, tờ nhựt báo “Ce Soir”, cơ quan của đảng cộng sản nhấn mạnh: “Là một đại cường quốc, nước Pháp phải được tham gia vào cuộc chiến ở Thái Bình Dương. Là một đại cường quốc có thuộc địa, nó ( Pháp ) phải giữ lấy thuộc địa ở khắp nơi và tái chiếm Ðông Dương”. ( Ðặng Văn Long, Người Việt ở Pháp 1940-1954, trang XII ).

[
Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi, viết xong tại Nam Vang, Cambodia 01/05/1949. Không rõ nhà xuất bản. Bản PDF của sách được xuất bản:

http://www.tusachtiengviet.com/images/file/JIqCLGit1AgQACxO/mot-con-gio-bui.pdf
]

Hồ Chí Minh cử ông Trần Ngọc Danh ( em ruột Trần Phú ) làm đại diện chính thức cho chính phủ tại Pháp từ năm 1946. Ðể lôi kéo những người không thích cộng sản, Danh tuyên bố “Hồ Chí Minh không phải là người cộng sản”. Chưa hết, Danh còn cho in lại bài phỏng vấn của nhà báo Thụy Sĩ, trong đó Hồ Chí Minh nói: “Các bạn của Việt Nam đừng quá lo ngại, chủ nghĩa cộng sản không thể nào du nhập được ở xứ tôi”. Rõ ràng chính ông là cán bộ quốc tế cộng sản, đã đem chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam từ thập niên 1920, mà bây giờ ông lại phủ nhận điều đó. Quả thật, đây là thủ đoạn của ông Hồ. Ông nói láo không ngượng miệng. Nên nhớ khi, còn ở Tân Trào, ông tâm sự với mấy người Mỹ trong toán OSS, đang huấn luyện cho du kích của ông: “những cán bộ lãnh đạo Việt Minh, đã bị mật thám Pháp vu cáo là cộng sản”. ( Chính Ðạo, Hồ Chí Minh: Con Người. Huyền Thoại, trang 357 ). Còn trong báo “Ðộc Lập” ( tức cộng sản trá hình ) xuất bản ngày Thứ Ba 04/09/1945, trong danh sách chính phủ “quốc gia” liên hiệp, ông Hồ: chủ tịch kiêm ngoại giao “đảng quốc gia” ( Xin xem tờ báo đính kèm với bài nầy ).

( Chú thích của hoangkyblog: trang web mà chúng tôi tìm thấy bài viết này không có đính kèm bài báo vừa nêu. )

Qua Thỏa Hiệp Án nầy, cũng như trong Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 06/03/1946, Hồ Chí Minh đã bán rẽ quyền lợi quốc gia dân tộc, kéo dài thêm cuộc kháng chiến, để củng cố quyền lãnh đạo của cộng sản. Chiêu bài “độc lập”, “tự do” cũng chỉ là những công cụ tuyên truyền lừa dối. Mặt trận Việt Minh, cũng như người sáng lập ra nó ( ông Hồ ), chỉ là một cái công ty chuyên môn lừa bịp, khủng bố, đàn áp, nhưng lại ngụy trang trong bộ mặt đấu tranh “giải phóng dân tộc”. Ngoài một số trí thức có nghiên cứu về chính trị, biết rõ thủ đoạn của cộng sản, còn đại đa số người dân, hay quần chúng Việt Nam, vì chưa có kinh nghiệm, lại nóng lòng vì độc lập, tự do, nên trở thành viên gạch lót đường cho Việt Minh cộng sản tiến tới mục đích cuối cùng của họ.

Nhận xét về “Thỏa Hiệp Án 14/09/1946”

Khoản thứ 1: Việt Nam lúc đó tự nhận là một quốc gia độc lập, có chủ quyền ( dù không một nước nào trên thế giới nhìn nhận ), mà lại nhường cho Pháp các quyền tự do như chính trong nước của họ là tại sao? Tạm ước cho phép người Pháp được tự do cư trú, đi lại sinh sống, ngôn luận, văn hóa, có khác nào như Pháp sống trên lãnh thổ của họ? Ðiều đó có nghĩa là hiện ta đang chiến đấu chống ngoại xâm, tự mình buông khí giới, dùng lời nói, giấy mực… tiến hành đánh Pháp. Lại còn cho Pháp tự do buôn bán, kinh doanh không giới hạn ở nước ta, thì như vậy có khác chi tình trạng một thuộc địa như trước đây? Trong lịch sử, chưa có một quốc gia nào chống ngoại xâm theo kiểu ấy.

Khoản thứ 2: Việt Nam đồng ý trao trả lại cho người Pháp tất cả xí nghiệp, tài sản… tất cả những thứ mà ta đã tịch thu của Pháp, như vậy là trái với cương lĩnh Mặt Trận Việt Minh từ năm 1941. Nói một đàng, làm một nẻo.

Hồi chưa chiếm được chính quyền, ông kết án chế độ Pháp tại Ðông Dương: “Tại các thuộc địa Pháp, cảnh khốn cùng và đói khát ngày càng gia tăng, nổi uất hận càng dâng cao, tinh thần phấn đấu của nông dân…”, vậy mà khi đã chiếm chính quyền, ông lại dễ dàng thỏa hiệp với Pháp, nhường cho Pháp đầy đủ các đặc quyền như thời thuộc địa, tại sao? Ðể Pháp tiếp tục đàn áp, bốc lột để thống trị Việt Nam thêm một thời gian nữa, đặng ông ta rảnh tay tiêu diệt đối lập trong Chính Phủ Liên Hiệp?

Khoản thứ 3: Cho Pháp tự do đặt chương trình giáo dục, mở trường học các cấp, dạy văn hóa Pháp không hạn chế, như vậy chủ quyền độc lập của Việt Nam ở đâu? Tại sao ông Hồ phải nhượng bộ các quyền lợi cho Pháp như vậy?

Khoản thứ 4: Khi cần, Việt Nam phải ưu tiên mướn chuyên viên của Pháp. Ðiều nầy giống như Việt cộng bây giờ buộc các công ty nước ngoài ở Việt Nam, phải thuê mướn người do đảng cộng sản giới thiệu là ưu tiên, là một điều kiện không bình đẳng.

Khoản thứ 5: Là nước tự do, nhưng Việt Nam chấp nhận không có tiền tệ riêng, phải xài chung đồng bạc của các xứ Liên Bang Ðông Dương. Tiền tệ do chính ngân hàng Ðông Dương của Pháp phát hành, chớ không phải của Việt Nam. Hơn nữa đồng bạc Ðông Dương phải phụ thuộc vào đồng franc ( phật lăng ) của Pháp. Như vậy đâu còn là một quốc gia tự do như đã khẳng định ở trên.

Khoản thứ 6: Việt Nam nằm trong Liên Hiệp Pháp về giao thông, vận tải, có nghĩa là Pháp tự do định đoạt, vì Việt Nam đâu có phương tiện, máy móc tàu bè gì? Về ngoại giao, Việt Nam muốn giao thiệp với ai, phải do Pháp quyết định, như vậy có khác gì thời thuộc địa? Tại sao ông Hồ lại chấp nhận cho chính phủ Pháp quyết định vấn đề ngoại giao của ta, trong khi ta không có quyền dòm ngó, can thiệp vào việc ngoại giao của Pháp?

Khoảng thứ 9: Việt Nam phải nhìn nhận cuộc kháng chiến ở Nam Bộ từ ngày 23/09/1945 đến 14/09/1946 là bất hợp pháp, là “phá rối an ninh trật tự”. Là người dân Việt Nam, quý độc giả nghĩ sao? Việt Nam tuyên bố chống Pháp giành độc lập, nhưng bây giờ ông Hồ hợp tác với Pháp toàn diện, thỏa mãn tất cả yêu sách của Pháp, như vậy ông Hồ phản bội quyền lợi dân tộc hay yêu nước như tuyên truyền? Ðình chiến mà không đặt điều kiện có nghĩa là quân Pháp đi tới đâu ta cũng không được đánh. Việc thả tù binh, theo định nghĩa “tù chính trị” cũng rất mơ hồ. Người Pháp đưa quân đến đây để dàn áp, chém giết nhưng người Việt Nam chống lại, bây giờ lại “ân xá” trong khi cuộc chiến còn tiếp diễn. Ngoài ra Việt Nam cũng như Pháp, phải chấm dứt tuyên truyền ác cảm chính là một sự lừa phỉnh. Ðiều nầy Pháp biết, ông Hồ biết, nhưng cứ giả bộ thành thật để dối gạt lẫn nhau, để ông Hồ có thì giờ khủng bố, sát hại đồng bào, vì yêu nước, tranh dấu giành độc lập như ông, nhưng không chịu “đoàn kết trong Mặt Trận Việt Minh” với ông mà thôi. Chiến tranh kiểu gì kỳ cục vậy? Các quyền tự do mà Pháp hứa cho Việt Nam chẳng qua là một sự rao hàng, phỉnh phờ, nhưng ông Hồ dùng nó làm vốn liếng để tuyên truyền đặng câu giờ để tàn sát những phần tử yêu nước, muốn tranh giành với Việt Minh.

Trên các sách báo từ năm 1945, Việt Minh luôn tự hào là một quốc gia độc lập “nhà nước công nông đầu tiên ở Ðông Nam Á”, nhưng lại chấp nhận tất cả mọi yêu sách của thực dân như hồi còn là thuộc địa. Dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Hồ được mối lợi gì, chẳng qua chỉ là cái bánh vẽ. Ðối với ông Hồ, tất cả chỉ là phương tiện, nhưng có điều tất cả những phương tiện của ông Hồ sử dụng đều có hại cho quyền lợi quốc gia dân tộc quá nhiều. Chiến thuật có hại cho dân tộc chính là sự phản quốc. Mà ông Hồ dùng các chiến thuật phá nát đất nước, tàn bạo, giết hết người yêu nước, như vậy ông Hồ chính là kẻ phản quốc, chứ không có công trạng gì với đất nước như cộng sản thêu dệt, bịa đặt để khoa trương.

Là cán bộ cộng sản quốc tế thuần thành, ông Hồ thuộc nằm lòng các thủ đoạn của đàn anh. Ông mô phỏng các mánh mung ấy nhưng không nêu xuất xứ. Bọn đàn em cứ bịa đặt thành tích rồi râm ran ca tụng như thần thánh. Nào “Bác vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê vào hoàn cảnh Việt Nam”, nào “tư tưởng Hồ Chí Minh”, sự thật tất cả chỉ là sự bịa đặt. Thủ đoạn ông Hồ bắt tay với Pháp để ký liên tiếp hai hiệp ước sơ bộ 06/03/1946 và thỏa hiệp án 14/09/1946, chỉ là sao y mánh khóe của Lenin sau cách mạng 1917 tại Nga. Mánh khóe ấy là “nhịn giặc ngoài để diệt thù trong”. Ðó là lý do Lenin ký hiệp ước Brest-Litovsk vào ngày 03/03/1918. Hiệp ước nầy cũng gần như đầu hàng Ðức Áo, để rảnh tay tiêu diệt kẻ nội thù của đảng cộng sản. Ông Hồ còn bắt chước chiến thuật “tiêu thổ kháng chiến” của Nga hồi Thế Chiến Thứ Hai. Tuy nhiên, vì quá nô lệ, ông không phân biệt được chỗ đúng và sai, Nga là quốc gia hàn đới, mùa đông cần chỗ trú ẩn, điện nước. Phá hủy nhà cửa, cắt điện nước, tức là làm cho quân địch phải tuyệt vọng vì không thể “sống ngoài trời, thiếu điện sưởi ấm và nước để uống. Còn áp dụng tiêu thổ kháng chiến ở Việt Nam, phá dinh thự, nhà cửa, không làm cho Pháp thiệt hại gì cả, vì họ đóng quân ngoài đường, trong rừng, có nước uống. Đó là sai lầm lớn và tội trạng của ông Hồ và Mặt Trận Việt Minh, vì tới nay, trên nửa thế kỷ qua, khắp nơi trên đất nước, còn nhiều cây cầu bị Việt Minh phá hủy, chưa khôi phục lại được. Còn các tổ chức Mặt Trận Việt Minh, nêu khẩu hiệu lừa bịp ‘Kháng Nhật cứu quốc’, cũng như các tổ chức ‘chiến khu’, ‘quân giải phóng’, ‘cứu quốc’, ‘Việt gian’ tất cả đều là sự rập khuôn, mô phỏng theo tổ chức của Mao Trạch Ðông. Ông Hồ không có bất cứ một sáng kiến gì cả. Lợi dụng thời cơ kẻ địch xâm lăng Việt Nam, Pháp, Nhật, ông Hồ và Mặt Trận Việt Minh đeo mặt nạ, lớn tiếng rêu rao ‘giải phóng dân tộc, chiến đấu giành độc lập, tự do’ tất cả đều là sự giả dối, có mục đích chiếm chính quyền, rồi tiến hành đưa đất nước vào quỹ đạo quốc tế cộng sản. Chớp được cơ hội Nhật đầu hàng, Pháp chưa trở lại, Việt Minh từ rừng sâu treo bảng cách mạng, nhảy lên địa vị chính phủ một cách bất hợp pháp, mưu đồ giành lấy chủ quyền độc tôn, để bành trướng chủ nghĩa cộng sản ra các lân quốc, theo sách lược của Cộng Sản Đệ Tam. Mọi sự nhân nhượng, cấu kết với Pháp qua hai hiệp ước kể trên, không phải do tình thế bắt buộc: đó là sự dự mưu đã được ông Hồ phác thảo từ lúc mới chuẩn bị cướp chính quyền”. ( Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc, Thượng Huyền dịch, trang 371- ).

Ông Hồ thà nhường cho Pháp tiếp tục thống trị Việt Nam thêm một thời gian, chứ không muốn cho các đảng phái Việt Nam khác, đứng ra lãnh đạo một nước Việt Nam độc lập”. Ðó chính là ý đồ thầm kín của ông Hồ. Các hành động của ông lúc nầy ( 1946 ), chỉ xoay quanh ý đồ cộng sản độc chiếm chính quyền mà thôi.

Ông Hồ gặp gỡ kiều bào trên đường về

Khi hay tin Hồ Chí Minh sẽ ghé thăm và nói chuyện về hiệp ước 14/09/1946, kiều bào Việt Nam tổ chức cuộc đón tiếp ngày 17/09/1946. Lúc đó ở Pháp, có tin đồn chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sẽ bị ám sát trên đường về nước ( Ðặng Văn Long, Người Việt Ở Pháp, trang 117 ). Ðiều nầy đã chứng tỏ thái độ bất mãn của Việt kiều với ông Hồ. Trên đường xuống Toulon về nước, ông Hồ qua sân vận động, là chỗ 3000 Việt kiều tập họp để chào đoán phái đoàn. Ông Hứa Văn Nên đọc diễn văn, bày tỏ sự băn khoăn thắc mắc của kiều bào đối với Hiệp Ước Sơ Bộ 06/03/1946 và Thỏa Hiệp Án 14/09/1946. Lý do chính phủ nhượng bộ cho Pháp quá nhiều, gần như đầu hàng. Ông Nên nói:

Chúng tôi không chống đối việc thương thuyết, nhưng thấy chủ tịch nhường cho Pháp quá nhiều quyền lợi về kinh tế, chánh trị, hơn cả Hiệp Ước Sơ Bộ 06/03/1946.

Ðáp lại thái độ của công binh và của Việt kiều hồi ấy, Hồ Chí Minh không một lời nói đến sự lo ngại của công binh, mà bắt đầu bằng một sự kiện khác:

Hội nghị Fontainebleau tuy không thành công, nhưng là một thắng lợi của phái đoàn quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Không thành, nhưng hội nghị Fontainebleau là một thắng lợi của nhân dân ta, thắng lợi của toàn thể nhân dân yêu chuộng hòa bình ở khắp thế giới.

Thay mặt chánh phủ và quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do toàn dân bầu cử ( chỗ nầy sai, chỉ có miền Bắc và vài tỉnh Trung Kỳ, mà bầu cử gian lận ), tôi khuyên kiều bào là công việc chánh trị để cho những người chuyên môn giải quyết, kiều bào hãy cố gắng chăm lo học lấy một cái nghề tinh xảo, để góp vào việc kiến thiết quốc gia. Ðất nước chúng ta cần đến những người con có nghề nghiệp tinh xảo.

Tôi nhắc lại một ý kiến mà kiều bào đã biết là nước ta như người có ruộng mà không có thóc, nước Pháp là người có thóc mang sang trồng ở ruộng ta, đến vụ gắt hái đem chia đôi, hai bên cùng có lợi, có phải như thế không? Kiều bào hiểu chưa?” Không một tiếng trả lời. Hồ Chí Minh nhắc lại “Kiều bào hiểu chưa?”. Hơn 3.000 ( ba ngàn ) người im phăng phắc, ngoài một tiếng phía gần cuối hàng vụt lên “hiểu rồi”. Ðó là tiếng nói của một công binh Cơ ngoại hạng tên Nguyễn Văn Trọ” ( Ðặng Văn Long, sđd. trang 117 ).

Còn tờ báo Nam Kỳ, số ra ngày thứ hai 23/09/1946, vừa binh vực Pháp, vừa khen ông Hồ như sau:

May thay, ở phương Bắc, còn có người biết quý sinh mạng của thanh niên Pháp và Việt Nam, còn có người biết nhân nhượng, còn có người biết cố gắng, còn có người chịu khó tìm hiểu nhau, người đó là cụ Hồ Chí Minh, ông Vũ Hồng khanh và ông Sainteny ba người đã ký hiệp ước Pháp Việt ngày 6/3/1946”.

Nhưng cùng với sơ ước 06/03/1946, thuyết chia rẽ ra đời, làm cho cuộc xung đột Pháp Việt kéo dài, ở Nam bộ “Hội nghị Ðà Lạt, hội nghị Fontainebleau không thành, người ta đã tưởng tượng tới cảnh núi xương sông máu cùng khắp non sông nước Việt. Song vẫn có người sáng suốt thấy xa, vẫn có người thành thật muốn hiệp tác và chấm dứt cuộc đổ máu tai hại cho cả đôi bên, nên đồng ý ký hiệp ước tạm thời 15/09/1946 ( nguyên bản ) để cứu vãn tình hình nghiêm trọng, chấn chỉnh nhân tâm, phục hưng kinh tế trong khi chờ sang năm 1947, ký một hiệp ước vĩnh viễn. Người đó lại là cụ Hồ Chí Minh với ông Bidault, thủ tướng Ðệ Tứ Cộng Hòa Pháp…”.

Chắc chắn lời khen nầy không giá trị, vì chỉ cuối năm, chiến tranh bùng nổ. Hai bên Pháp và Việt Minh đều bịp lẫn nhau, nhưng giả bộ như thật, để chuẩn bị mở rộng chiến tranh. Chỉ có người quốc gia theo chủ nghĩa dân tộc bị thiệt thòi. Lý do, ông Hồ tạm hòa với Pháp, để tiêu diệt người cùng đoàn kết với mình trong chính phủ liên hiệp. Ðó là ý đồ thầm kín của ông Hồ và thực dân Pháp.

Còn dưới đây là ý kiến của một nhân chứng thời cuộc, đã tham dự vào Mặt Trận Việt Minh, chúng ta càng thấy rõ thủ đoạn của ông Hồ:

Làm thế nào biết được khi ông ta ( Hồ ) lầm lũi trong đêm khuya đến nhà riêng xin ký với Marius Moutet? Làm thế nào biết được khi ông ta ( Hồ ) cho Pháp tất cả mọi điều Pháp muốn, từ đồng bạc đến nền ngoại giao, khi một người đàn bà vô học, cứ van lạy không thôi, cũng đòi lại đôi chút quyền lợi, nhiều hơn tạm ước 14/09”. ( Nguyễn Kiên Trung, Ðem Tâm Tình Viết Lịch Sử, trang 79 ).

( Chú thích của hoangkyblog: Nguyễn Kiên Trung một bút hiệu khác của văn hào Nguyễn Mạnh Côn, tác giả của “1945 Lạc Đường Vào Lịch Sử”. )

Thắng lợi tại quê nhà

Như trên đã nói, ông Hồ và hai đoàn dân biểu, bộ trưởng vừa thành lập chính phủ, đã kéo rốc sang Pháp, kể chủ tịch mới được tấn phong. Công việc nước nhà bề bộn: Pháp đưa quân chiếm đóng các tỉnh miền Bắc, chiếm các vị trí hiểm yếu. Nội bộ Việt Nam cũng rối ren không kém. Các đảng còn tranh chấp nhau, tố cáo lẫn nhau vì chánh phủ nói một đàng làm một nẻo. Nước Pháp cũng rối ren, chưa sẵn sàng đón tiếp quốc khách công du. Tuy vậỵ, ông Hồ vẫn cứ đi, đi cho vắng mặt tại Việt Nam. Ông đã có mưu đồ thầm kín. Các bộ trưởng của chính phủ mới cũng đi để khỏi thấy cảnh đồng viện, đồng bộ trưởng ở nhà đang bị sát hại bởi cái chính phủ mà họ đang tham gia.

Vừa về tới Hà Nội, Hồ Chí Minh họp báo tuyên bố: “Chúng tôi quyết đoạt được độc lập, nhưng chúng tôi cũng quyết định sống trong Liên Hiệp Pháp ( chú thích: đế quốc trá hình ). Nước Pháp yêu chuộng dân chủ và tự do. Không lý do nào mà Pháp từ chối. Tôi dám cam kết rằng chính phủ Pháp đã có ý định thi hành nghiêm chỉnh tạm ước vừa ký kết”. Chỉ 3 tháng sau, Pháp tấn công toàn diện! “Tạm ước nầy rất cần thiết, tiện sự giao hảo giữa hai nước Pháp Việt, trước khi hội nghị tháng giêng tới đây.” ( Nam Ðình, Tài Liệu Lịch Sử, trang 364 ).

Rõ ràng lời tuyên bố của ông Hồ đều hoàn toàn xảo trá. Các sự kiện xảy ra sau đó mấy tháng đã chứng minh sự thật.

Về tới Hà Nội, điều đầu tiên ông Hồ hài lòng là tất cả nhân vật thuộc các đảng quốc gia tham dự chính phủ liên hiệp đều bị loại: kẻ bị giết, người bị bắt cóc thủ tiêu, người bị giam cầm nơi kín đáo, còn người nhanh chân thì đã vượt biên sang Trung Hoa. Bây giờ Việt Minh một mình một chợ. Ðảng Dân Chủ vẫn được giữ lại làm bình phong để Việt Minh ngụy trang trong đó. Như vậy, ông Hồ phải lập chính phủ mới với các thành phần mới trong Mặt Trận Liên Việt, tổ chức cộng sản trá hình thứ hai, để thế giới không thấy rõ cả chính phủ đều là cộng sản!

Vì thế quốc hội nhóm càng sớm càng tốt. Ông Hồ âm thầm ra lịnh triệu tập quốc hội vào ngày 28/10/1946.

Trước ngày nhóm quốc hội, Võ Nguyên Giáp bố ráp một lần nữa, bắt hết cán bộ của những đảng đối lập, nên từ ngày 23 đến 27 Tháng Mười, có hơn 200 người “tình nghi đối lập” bị bắt và bị thủ tiêu như Vũ Ðình Chí, biên tập viên báo Việt Nam ( Quốc Dân Ðảng ), thường viết bài xã thuyết chống Việt Minh, chống lập trường của chính phủ.

Sau đợt nầy, không còn dối lập nữa. Ðúng ngày 28/10/1946, quốc hội nhóm tại Nhà Hát Lớn. Lần nầy chỉ còn 210 dân biểu hiện diện, 70 dân biểu đối lập thì lớp bị thủ tiêu, hoặc đang trốn, nay còn lại không quá 20 người và cũng ngã theo Việt Minh.

Ba ngày đầu, không có gì quan trọng. Ngày thứ tư 31/10/1946, Hồ Chí Minh ra trước quốc hội trình bày những hoạt động của chính phủ từ 6 tháng nay, để rồi từ chức, ông viện lẽ “tình hình biến chuyển, cần có một chính phủ mạnh mẽ hơn để đối phó mọi biến cố”.

Quốc hội hoan nghinh ( vì toàn thể đều là Việt Minh của ông Hồ ), rồi biểu quyết tặng Hồ Chí Minh danh hiệu “công dân thứ nhứt Việt Nam”, đồng ý giao cho Hồ Chí Minh lập chính phủ khác. Ba ngày sau ( ngày 3 Tháng Mười Một ), Hồ Chí Minh lại ra trước quốc hội trình thành phần chính phủ mới:

  • Hồ Chí Minh: Chủ Tịch kiêm Ngoại Giao. Vài ngày sau, Hoàng Minh Giám được cử làm Thứ Trưởng.
  • Võ Nguyên Giáp: Bộ Quốc Phòng.
  • Tạ Quang Bửu: Thứ Trưởng Quốc Phòng.
  • Huỳnh Thúc Kháng: Bộ Nội Vụ.
  • Hoàng Hữu Nam: Thứ Trưởng Nội Vụ.
  • Phạm Văn Ðồng: Thứ Trưởng Kinh Tế.

Chắc quý độc giả cũng thấy vắng các vị như Nguyễn Tường Tam ( Việt Nam Quốc Dân Đảng ), Nguyễn Hải Thần ( Ðồng Minh Hội ), Vũ Hồng Khanh. Cả ba đã trốn sang Tàu! Còn bác sĩ Trương Ðình Tri ( Ðồng Minh Hội ) cũng bị loại ra khỏi hàng ngũ.

Nghiêm Kế Tổ thì tự ý rút lui vì hiểu rõ tâm địa cộng sản. Ðó là bề mặt. Quyền hành thực sự nằm trong tay Tổng Bộ Việt Minh, tức trung ương Đảng Cộng Sản: đó là các ông Hạ Bá Cang, Trần Huy Liệu, Trường Chinh, Trần Ðăng Ninh.

Bước thứ nhất đã được ông Hồ thực hiện: loại tất cả đối lập trong chính phủ. Có điều ông khéo ngụy trang: vắng mặt để Giáp ngụy tạo tội trạng, tấn công các đảng quốc gia. Việt Minh truy đuổi họ đến tận biên giới Lào Cay hay Lạng Sơn để thực hiện việc “Việt Minh độc chiếm chính quyền, không chia xẻ với bất cứ ai”.

Sách Hồ Sơ Ðệ Tứ Việt Nam thuộc Tủ sách Nghiên Cứu Paris 2000, trang 13 viết “Cũng đi từ quan niệm độc quyền lãnh đạo, ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã mở cuộc diệt trừ tả hữu từ Trotkyst đến quốc gia, không cho một mầm mống nào đối lập có thể trồi lên được”. Trước đó mấy tháng, cuối năm 1945 đầu 1946, chính ông Hồ van nài các đảng đối lập “hợp tác tịnh thành với Việt Minh”, bây giờ chính ông triệt hạ họ một cách tàn bạo. “Ðoàn kết” thực tế là như vậy.

Theo chủ trương che giấu sự thật lịch sử, bưng bít các hành động phản bội và phản quốc của mình, ông Hồ và Đảng Cộng Sản Việt Nam không bao giờ dám cho đăng lại toàn bộ nội dung các bản hiệp ước: Hiệp Ước Sơ Bộ 06/03/1946, Thỏa Hiệp Án 14/09/1946.

Bản chúng tôi có trong tay do báo Nam Kỳ, thân Pháp, không phải của Việt Minh ở Sài Gòn, đăng lại. Ðiều nầy cũng giống như việc Đảng Cộng Sản Việt Nam đã ký kết hai hiệp ước bán nước, dâng đất, lãnh hải cho Trung Cộng mới đây.

( VNNB, 26/09/2002 )

Tác Giả: Hứa Hoành.

Nguồn:

http://www.danchu.net/ArticlesChinhLuan/Collection4/HuaHoanh4001.htm

http://www.geocities.ws/xoathantuong

Bò Dát Vàng Rắc Muối, 155 Triệu Bảng Anh, Và Phái Đoàn Dép Râu Nón Cối. Tác Giả: Từ Liên.


Dù sao thì tài năng của các ông cũng nổi trội nhất là ở hai lĩnh vực, ăn cắp trong nước và ăn xin nước ngoài. Ngoài ra, các ông đâu thể làm gì khác đâu, làm sao ép các ông làm khác được.

08/11/2021

Hai ngày nay, trên các báo chí của Việt Nam, tràn ngập những lời ca ngợi chuyến công du thành công của Thủ Tướng Chính Phủ Phạm Minh Chính và đoàn đại biểu cấp cao, trong đó có các bộ trưởng và thành viên Bộ Chính Trị Việt Nam từ ngày 31/10 đến 5/11 tới Châu Âu.

Mục đích chính của chuyến công du lần này của ông thủ tướng là tham gia Hội Nghị của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu ( COP26 ) và gặp gỡ một số quan chức và đối tác tại Vương Quốc Anh. Ngoài ra, phái đoàn này cũng có chuyến thăm Cộng Hòa Pháp.

Không rõ chuyến thăm tốn kém hàng tỉ tiền thuế của dân Việt Nam của ông làm được những gì cho dân Việt Nam trong thời gian sắp tới, nhưng người ta nhìn vào những gì được chính phủ của ông trưng ra như những bằng chứng thuyết phục cho sự thành công của chuyến đi thì có ba thành tích nổi bật:

Thành tích thứ nhất: Đây là một trong những chuyến đi ăn xin sang chảnh mới nhất ở cấp chính phủ…

Không rõ hiện nay có bao nhiêu quốc gia trên thế giới mà mỗi lần chính phủ của họ đi công du, là một lần đi ăn xin, ăn vạ, từ chính phủ các quốc gia họ tới công du, cho tới cộng đồng người gốc Việt ở các quốc gia họ tới công du. Lần nào trở về họ cũng khoe họ đã xin được cái này hay cái khác, tới độ người dân trong nước cũng thấy muối mặt. Sách giáo khoa họ dạy nước Việt Nam sở hữu rừng vàng biển bạc, dân tộc Việt Nam chăm chỉ, cần cù, Đảng tài ba sáng suốt lãnh đạo, Việt Nam đánh thắng các đế quốc mạnh nhất trên địa cầu, vị thế của Việt Nam tăng vùn vụt trên trường quốc tế…

Vậy mà gần 80 năm rồi họ vẫn vác bị gậy, nói cối, dép râu… đi ăn xin vòng quanh địa cầu…, tới diễn đàn nào họ cũng nổ banh xác pháo về những thành tựu kinh tế, khoa học kỹ thuật, y học, về tài năng quản lí đất nước theo kiểu xã hội chủ nghĩa của họ.

Giống dân Việt Nam lần lần vì họ mà không ngóc đầu lên nổi… rồi lần lần nhiều người cũng học đảng, học lãnh đạo, cũng sắm dép râu, nón cối, bị, gậy lên đường đi khắp địa cầu để lao động kiếm tiền gởi ngoại tệ về.

Rồi họ phát hiện ra cách này làm giàu nhanh hơn, mang tiếng đi làm thuê cho tư bản nhưng tiền mình mình bỏ túi, con mình sanh ra nếu mình có chút kiến thức, biết luật pháp thì sẽ được nước sở tại cấp tiền nuôi dưỡng, được hưởng mọi quyền lợi của trẻ em, ra đường không bị ai hoạnh họe, có rắc rối gì thì có tòa án xử, không lo lúc nào cũng bị làm khó, mà lúc lỡ tức quá chửi cái thằng tự xưng là đầy tớ của mình mấy câu thì nó kiếm chuyện cho mình vô ở tù.

Người nào làm ăn khá hơn thì lần lần tìm ra đủ mọi cách để đưa người thân, anh chị em, con cái đi theo mình, rồi trở thành kiều bào, lúc đó người của chính phủ lại qua ăn xin mình, lúc đó mình cũng mở mày mở mặt được… Những năm gần đây, nhiều người dân Việt Nam, khổ, nhục, chết cũng cam chịu, kiên quyết noi gương đảng, chính phủ, vác bị, gậy xin đi làm thuê cho tư bản… Ngồi thùng đông lạnh cũng ngồi, trồng ma túy, cần sa, làm công nhân ở những nơi độc hại, bị khinh rẻ, bị đánh đập, lạm dụng khổ như Osin bên mấy xứ Trung Đông cũng làm, nghề gì cũng còn tốt hơn làm công nhân, nông dân, nghề tự do, ở thiên đàng cộng sản Việt Nam, ước mơ của họ là kiếm đường ở lại để khỏi bị đuổi về quê hương…

Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long (phải) tiếp nhận trang thiết bị y tế ủng hộ từ kiều bào Anh, Pháp. Ảnh: Trần Minh.
Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long (phải) tiếp nhận trang thiết bị y tế ủng hộ từ kiều bào Anh, Pháp. Ảnh: Trần Minh.

Chuyến đi này, ông Chính khoe: Phái đoàn của ông nhận được “một số trang thiết bị và vật tư y tế hỗ trợ điều trị COVID-19 trị giá 3,5 triệu bảng Anh và 640.000 Euro do kiều bào, các cơ quan tại Anh và Pháp tặng; hơn 400.000 bơm kim tiêm và một số vật tư y tế do Liên Hội Y Tế Pháp-Việt tặng; 2 tỷ đồng tiền mặt và hơn 16.000 bảng Anh do kiều bào, các cơ quan tại Anh ủng hộ; 107.000 Euro do kiều bào, các cơ quan tại Pháp ủng hộ”:

https://vnexpress.net/tiep-nhan-thiet-bi-y-te-do-kieu-bao-anh-phap-ung-ho-4382303.html

Nhìn tấm hình các ông cười tươi rói khi trao những món quà này thì các ông có vẻ tự hào vì thành tích ăn xin của chính phủ của mình lắm… Dù sao thì tài năng của các ông cũng nổi trội nhất là ở hai lĩnh vực, ăn cắp trong nước và ăn xin nước ngoài. Ngoài ra, các ông đâu thể làm gì khác đâu, làm sao ép các ông làm khác được.

Trong nước, các ông ăn cắp tiền thuế của dân xài phung phí cho tượng đài hoặc các dự án ma, hoặc tham nhũng, hoặc tìm mọi cách vơ vét, chia chác với nhau, rồi mua toàn đồ kém chất lượng ép dân xài… Mà nói thiệt, hàng tư bản viện trợ vô tới tay các ông thì cũng chẳng còn gì là của dân hết… Đồ tốt các ông giành hết cho gia đình, con cháu các ông xài, còn lại thì phù phép bán cho các bệnh viện tư hoặc bệnh viện sân sau của các ông lấy tiền bỏ túi… Rồi các ông đi về còn than với dân là các ông khổ cực, muối mặt đi xin cho dân cái nọ cái kia, các ông vừa được tiếng và vừa được miếng.

Thôi, hai tài nghệ ăn cắp và ăn xin của các ông được truyền đời thành ra nó chuyên nghiệp rồi, ngoài người của các ông thì mấy ai cạnh tranh nổi với các ông nữa.


Thành tích thứ hai: Quan chức Việt Nam thưởng thức beefstake dát vàng ở một trong những nhà hàng sang chảnh nhất London…

Ngày 3/11/2021, Một đoạn video 41 giây được phát hành trên tài khoản TikTok của đầu bếp người Thổ Nhĩ Kỳ Nusret Gökçe, biệt danh Salt Bae hay “Sprinkled Salt” với gần 11 triệu lượt theo dõi, đã ngay lập tức gây bão mạng ở Việt Nam…


Cơn bão trong thời đại toàn cầu hóa và kỹ thuật số này này nó mới nhanh làm sao… Người ta có cảm giác như ông Tô Lâm và phái đoàn dép râu nón cối của ông còn chưa kịp hóa trang lại với bị, gậy để trở thành những đảng viên cộng sản gương mẫu, đặng rời khỏi nhà hàng mà không bị chú ý, còn chưa kịp tiêu hóa hết món bò nạm vàng rắc muối đầy nghệ thuật, là hình ảnh của các ông đã nhảy lên màn hình các thiết bị mà đi vòng quanh thế giới rồi. Tới nỗi mấy bữa nay ở Việt Nam, người ta gõ Tô Lâm một cái là chỉ thấy màn hình hiện lên các bài báo có cụm từ Tô Lâm + Bò Dát Vàng; Tô Lâm + Bò Rắc Muối, làm cho người ra cứ có cảm giác là ông Tô Lâm đó là chủ quán thịt bò nào đó, hoặc cái tên Tô Lâm đó chính là tên một món ăn được làm từ thịt bò và được dát vàng hay rắc muối trước khi đem ra phục vụ cho thực khách… Người nước lạ hoặc người không biết câu chuyện của ông Tô Lâm thì không thể nào hình dung được ông là đương kim bộ trưởng Bộ Công An của chính phủ Việt cộng, người đã có công bắt hàng chục những người Bất Đồng Chính Kiến mỗi năm.

Nhưng, mặt khác, những người biết câu chuyện của ông cũng thấy không hẳn ông không có liên can gì tới Bò… Ở Việt Nam có một loại Bò quý hiếm nghe đồn có nguồn gốc từ tận bên Trung Cộng, tên là Bò Đỏ. Loài này hình như chỉ còn phân bố ở hai khu vực chính của Châu Á và vài nơi khác trên thế giới… Nói chung là chúng gần như được đưa vào sách đỏ của thế giới rồi. Loài bò đỏ này nghe đồn không ăn cỏ, uống nước suối mà chỉ ăn món có tên “3 củ” một tháng, củ gì thì không rõ, nhưng chỉ có Đảng với chính phủ biết cái củ đó là gì, tháng nó chỉ ăn đúng 3 củ mà sống. Ăn xong thì người nó có màu đỏ đặc trưng y như màu đỏ trên lá cờ đảng vậy, nên người ta kêu Bò Đỏ. Do ăn uống không đủ chất nên Bò này cũng không cho sữa, không cho thịt hay da, nên ở các quốc gia khác, người ta chê không nuôi nên nó thành ra tuyệt chủng, may mà tới Trung Quốc với Việt Nam nó được hồi sinh lại.

Đảng giao cho anh Tô Lâm với người của ảnh chăn nuôi đàn bò này… Nghe đồn ảnh cũng mát tay, đàn bò của ảnh ngày càng đông đúc. Tuy nhiên, do không thể phối giống với các giống bò tốt hơn, nên càng những thế hệ sau, giống bò này càng trở nên thoái hóa, hình dạng thì kỳ dị, mặt mày thì ngáo ngơ, ăn nói thì ngô nghê, thiếu hiểu biết, chỉ biết có ụm bò, ụm bò ngày đêm, năm này qua năm khác… miễn sao tới tháng có 3 củ để duy trì sự sống… Lũ này hễ thấy ai không kêu ụm bò ụm bò giống mình thì liền báo lại cho quân của anh Tô Lâm theo dõi. Nếu con nào vừa không kêu mà vừa không hiểu Ụm Bò là gì luôn thì báo anh Tô Lâm để bắt nhốt vô tù.

Tô Lâm với người của ảnh cũng chẳng quan tâm… ảnh chăn bò Đỏ nhưng anh biết thịt của đám này dở ẹc, ăn không vô, ngó cái mặt chúng cũng chán rồi, ngu không chịu nổi. Ảnh thèm là thèm bò Tư Bản, rắc muối, dát vàng nướng bơ của tư bản kìa… một phần bò đó cũng cỡ trên dưới 50 triệu Việt Nam đồng, đủ nuôi gần 20 chục con bò đỏ trong một tháng…

Người Việt Nam cũng không rõ tại sao trong phái đoàn của Đảng và chính phủ lần này đi qua Anh mục đích chính là dự hội nghị về Biến Đổi Khí Hậu lại có ông Tô Lâm đi cùng… Người ta chỉ nhớ lần cuối ông qua Châu Âu cách đây vài năm, một quan chức của Việt Nam là ông Trịnh Xuân Thanh đã được ông phù phép biến mất từ Đức rồi hiện thân lại ở nhà tù Việt Nam… Lần này người ta tự hỏi không biết nhiệm vụ của ông là gì? Anh Quốc trong những năm gần đây bắt đầu thu hút sự quan tâm của nhiều quan chức cộng sản cũng như con cái họ, và kể cả những người lao động Việt Nam nữa…, thay vì Châu Âu lục địa trước đây.

Qua nước Anh, với tư cách là người trong phái đoàn ăn xin, nhưng ông Tô Lâm và phái đoàn của ông đã làm một việc khiến chính phủ Việt cộng nổi tiếng trên toàn thế giới chỉ sau một đêm…

Phái đoàn của các ông đến nước Anh với danh nghĩa là phái đoàn của một quốc gia cộng sản còn kém phát triển. Nhưng nhìn phong cách các ông ngồi bên bàn ăn bình thản theo dõi bữa ăn tiền tỉ của mình thì có vẻ như các ông cũng đâu có xa lạ với những món sơn hào hải vị đâu… Mà nói thiệt, món beefstake đó cũng chỉ chừng trên dưới một ngàn bảng Anh một phần, cộng với rượu vang rồi phí phục vụ và đồ ăn khác nữa thì cũng chừng năm mười ngàn bảng một người, dân tình làm gì mà rùm beng lên vậy… Mùa dịch vừa rồi, chỉ riêng nhập thiết bị y tế hay vaccines, test kits, có mà chia chác sơ sơ thì các bác này cũng đủ ăn trong cả tháng món bò này, cho dù là ngày nào cũng ăn, đây người ta mới ăn có một bữa… mà chẳng qua là người ta đi qua đây, người ta muốn tận mắt coi tài nghệ của nghệ nhân rắc muối thôi, nên người ta mới tới quán… Chứ ở Việt Nam, một bữa ăn nếu muốn người ta còn thưởng thức cả tay gấu, cả nhân sâm ngàn năm, cả vi cá mập, bò thì bò gì họ muốn cũng có, từ bò Kobe tới bò hoang Châu Mỹ, chở về nguyên con mới giết thịt, họ uống rượu ngâm sừng tê giác với nhân sâm quý hiếm cả tỉ đồng một chai… Mấy cái bò dát vàng rắc muối này chỉ là muỗi, ăn thua gì…

Chẳng qua mấy ông xui ở cái chỗ là bình thường ở trong nước các ông rao giảng đạo đức mỗi ngày, đi ra ngoài các ông đóng vai nghèo khổ đi xin xỏ cái này, cái nọ của các nước tư bản, rồi đùng một cái, bản chất thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh “Cần, kiệm, liêm, chính” trỗi dậy, các ông bước vào nhà hàng sẵn tiền thuế của dân trong túi… các ông quên mất dân Anh, dân tư bản nó không phải dân Việt Nam, các ông trả tiền thì người ta phục vụ, nhưng người ta đâu có sợ các ông, đâu có ngán các ông, như dân Việt Nam, nên sẵn dịp, người ta quảng bá luôn giùm cho các ông luôn, cho các ông vươn ra tầm thế giới chỉ trong một đêm…

Mà nói thiệt, nhờ dịp này các ông nổi tiếng khắp thế giới, xuất hiện trên khắp các mặt báo chí tư bản nhé, Anh, Úc, Châu Âu, Thái Lan, Singapore… Các ông còn không biết cảm ơn người ta, bao nhiêu YouTuber, Vlogger, bao nhiêu ca sĩ, nghệ sĩ, đạo diễn, thậm chí chính trị gia… muốn nổi tiếng cỡ nửa vậy thôi mà tốn biết bao nhiêu tiền, gấp mấy lần tiền bít tết của ông cũng không làm được…

Giờ thì cả thế giới biết cộng sản Việt Nam giàu thế nào rồi nhen…

Giờ thì cả thế giới biết quan chức Việt Nam chơi lớn thế nào nhen.

Dù cho họ qua thăm các quốc gia mà dân số có thu nhập đầu người gấp vài chục lần Việt Nam.


Dù cho một miếng thịt bò dát vàng có giá “tương đương 8 tấn gạo khô” ở Việt Nam.

Dù cho dân số của xứ Việt cộng vừa về bên kia thế giới hết hai mấy ngàn người do tài năng chống dịch của Đảng.

Dù cho nền kinh tế trong nước suy thoái… triệu người bị ảnh hưởng công việc hoặc thất nghiệp do dịch COVID.

Trẻ em không có thiết bị để học tập online…

Lương của các ông theo bảng niêm yết công khai của chính phủ khoảng 700 USD/tháng…

Nhưng beefstake dát vàng do đầu bếp chính chủ thực hiện là phải thưởng thức…

Nhìn lại coi, có chính trị gia tư bản nào đáng xách dép cho mấy ông quan chức cộng sản về khoản ăn chơi này không… Như vậy ít nhất, Việt Nam cũng có thành tích mà tự hào… Thử hỏi ngoài Việt Nam, có chính trị gia nào có can đảm tới tận quán này mà ăn không? Danh sách của quán toàn diễn viên với người mẫu, cầu thủ bóng đá. Tóm được mấy ông chính trị gia xứ Việt cộng chính hiệu, họ phải quảng bá là đúng rồi…, làm gương cho chính trị gia nước khác chớ.

Các nước tư bản thiệt là dở, quan chức ló mặt tới mấy quán này là dân ném đá mỏi tay. Ăn một miếng beefstake thì ngủ không yên, mai lại phải khấu đầu tạ lỗi, rồi cuốn gói đồ đạc mà rời khỏi chỗ làm tức khắc… Rồi họ ghi vào lịch sử, biêu riếu năm nọ qua năm kia, đem vào trường học cho đám học trò phê phán… Thứ quan chức gì mà giàu vậy? Thuế của dân mà xài hoang vậy? Ôi, tư bản giãy chết…

Bởi vậy người ta nói ở xứ tư bản nó khổ lắm… qua chơi thôi thì được, đừng có sống luôn tại đó… dân người ta hung dữ, chửi quan chức như con, không kiếm chác được gì đâu. Làm thủ tướng hết 1-2 nhiệm kỳ mà không trả nổi hết nợ ngân hàng…


Thành tích thứ ba: Việt Nam khiến cả thế giới choáng váng vì sự giàu có của các tỷ phú mới nổi.

Thành tích này của phái đoàn dép râu nón cối còn làm thế giới rúng động hơn cả chuyện anh Tô Lâm chăn bò Đỏ đi ăn thịt bò nạm vàng rắc muối nữa…

Đó là chuyện một nữ “Doanh nhân tự thân” của Việt Nam chơi đẹp, tặng một lần cho đại học Oxford của nước Anh 155 triệu bảng Anh ( tương đương gần 220 triệu đô la Mỹ ), mà đại học này cũng phải ghi nhận là khoản đóng góp một lần lớn nhất trong lịch sử của Oxford, trước đó, có một doanh nhân người Anh đóng góp 150 triệu bảng Anh.

Nhiều quan chức Anh hẳn là muốn té xỉu khi nghe tin này…

Cái đất nước cộng sản gần 80 năm tuổi vừa mới lú đầu ra khỏi danh sách những quốc gia nghèo nhất thế giới để leo lên nhóm cận nghèo, nghèo trung bình… thu nhập đầu người mới khoảng trên 2,000 đô la Mỹ, vừa trải qua bệnh dịch tang thương, dân chúng dắt díu nhau tháo chạy khỏi các thành phố lớn liên tục suốt mấy tháng trời như bị chiến tranh đuổi tới…, tiền cứu trợ không có mà phát cho dân, đang phải tìm mọi kế huy động vàng, ngoại tệ trong dân bằng mọi cách… người lao động phải đi làm thuê khắp thế giới, từ lao động hợp pháp tới bất hợp pháp. Ở Châu Âu, đám người này tìm cách chạy qua nước Anh, chui vào thùng xe đông lạnh, chết cả mấy chục người một lúc…


Vậy mà giờ đây, có người được gọi là tỷ phú tự thân của Việt Nam, CEO của một hãng hàng không mà các quốc gia tư bản gọi là hàng không Bikini, vì hãng này đã cho nguyên dàn tiếp viên mặc bikini nhảy múa trên máy bay năm 2012 để thu hút khách đi máy bay, còn trong nước người dân gọi là hãng máy bay “Delay” vì tần suất delay dày đặc khủng khiếp của hãng này… Suốt mấy tháng bệnh dịch máy bay nằm tại chỗ, các hãng hàng không ngắc ngoải chờ chết, nhà nước thiếu ngoại tệ trả nợ… Vậy mà đùng một cái, bà chủ Phương Thảo cho máy bay chở nguyên một cục tiền khổng lồ qua ném vô đại học Oxford của nước Anh…

Báo chí quốc tế rần rần lên tiếng… Báo chí trong nước gần như nín thinh nghe ngóng tình hình…

Dân tình có hỏi nhau, tại sao người Việt Nam chuyển vài trăm đô ra nước ngoài cũng khó, mà bà CEO này, cho máy bay chở cả đống tiền đi như chở tiền âm phủ vậy. Ông Phạm Quý Thọ, nguyên trưởng khoa chính sách công tại Học Viện Chính Sách và Phát Triển, nói với Nikkei AsiaViệt Nam còn nghèo. Chúng ta cần tiền”. Ông đặt câu hỏi về việc gửi một khối tài sản như vậy ra khỏi đất nước, nơi có sự kiểm soát vốn nghiêm ngặt, nói rằng “không ai có thể hiểu được” số tiền đã đi đâu.

Nhưng tới khi người ta nhìn thấy tấm hình phái đoàn Việt Nam và ông thủ tướng Phạm Minh Chính đích thân đứng mỉm cười nhìn bà Thảo trao đổi văn kiện với đại diện của trường Oxford thì người ta dần dần hiểu ra… Thì ra việc này có bàn tay của chính phủ…. Dĩ nhiên với khoàn tiền lớn như vậy muốn chạy ra bên ngoài nó phải qua sự kiểm duyệt của chính phủ Việt cộng.

Dân tình lại đồn: Như vậy tiền đó không chắc chắn là tiền của bà Thảo, nó có thể là tiền chung của một bộ phận quan chức nào đó góp lại để “rửa chung” một lần dưới hình thức đầu tư giáo dục… Số tiền này sẽ kèm theo những điều kiện mà người Việt Nam không biết được, nó có thể dọn đường cho con cháu Việt cộng có tấm vé vào nước Anh trong tương lai…

Điều này diễn ra trong bối cảnh Đảng vừa tuyên bố điều lệ mới vào ngày 27/10, chỉ vài ngày trước khi phái đoàn đi công du. Điều lệ quy định “Đảng viên không được nhập quốc tịch, chuyển tài sản ra nước ngoài trái quy định“.

https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/dang-vien-khong-duoc-nhap-quoc-tich-chuyen-tai-san-ra-nuoc-ngoai-trai-quy-dinh-787408.html

Có nghĩa là đây có thể là một trong những phi vụ cuối cùng “hợp pháp” mà các đảng viên cộng sản cao cấp tiến hành để chuẩn bị cho một cuộc tháo chạy lớn trong tương lai.

Đáng ngạc nhiên hơn, theo điều tra của tờ Nikkei, bà Thảo được cho là con của quan chức cộng sản có gốc gác lớn, qua Liên Xô du học sau khi bà tốt nghiệp cấp III. Chồng bà là ông Nguyễn Thanh Hùng cũng du học tại Liên Xô. Họ lần lượt lấy các bằng đại học, thạc sĩ ở đây. Tại Liên Xô, bà khởi nghiệp bằng việc buôn bán máy Fax và cao su. Sau đó hai vợ chồng bà mới về nước và đầu tư vào ngân hàng HD, sáng lập hãng VietJet, cũng như đầu tư vào khu nghỉ dưỡng và bất động sản…

https://asia.nikkei.com/Business/Education/Why-an-Oxford-college-is-renaming-itself-for-Vietnam-s-richest-woman

Toàn bộ quá trình trưởng thành và hái gặt thành công, lợi nhuận của bà là tại Liên Xô cũ và Việt Nam, và giờ đây bà là người không phải cựu sinh viên của Oxford đầu tiên đầu tư một khoản tiền khổng lồ như vậy. Tất cả những việc này lại diễn ra ngay trong chuyến đi của ông thủ tướng Phạm Minh Chính và phái đoàn quan chức cộng sản cao cấp tới nước Anh, thậm chí lễ ký kết diễn ra dưới sự chứng kiến của họ khiến người ta không khỏi đặt câu hỏi về sự trùng hợp của nó…


Lần ngược lại một bài báo có tựa đề “Đơn đặt hàng máy bay bom tấn của VietJet, nhưng tiền đến từ đâu?” của phóng viên Michael Tatarski đăng trên tờ Asian News Today vào ngày 25 Tháng Năm, năm 2016.

Người ta thấy tác giả đã đề cập đến thông tin đáng chú ý : “Điều đáng khâm phục hơn là bà Thảo có tên trong Hồ Sơ Panama, tên gọi của vụ rò rỉ dữ liệu khổng lồ từ công ty luật Panama Mossack Fonseca, như một người đã giúp một số thành viên của giới thượng lưu toàn cầu trốn thuế tại quốc gia của họ”.

Xin xem tham khảo:VietJet’s Blockbuster Boeing Order, But Where’s The Money Coming From?” trong comment thứ nhất bên dưới.


Trong khi đó, tờ Guardian của Anh quốc cũng cho biết:

Tại Oxford, có nhiều ý kiến thắc mắc về khoản quyên góp của bà Thảo cho tổ chức. Theo điều tra của họ, tập đoàn của bà Thảo kiếm được phần lớn tài sản của mình từ hãng hàng không giá rẻ VietJet Air, do Sovico kiểm soát. Tập đoàn này cũng là cổ đông lớn nhất của HDBank, trong hội đồng quản trị mà bà giữ chức Phó Chủ Tịch. HDBank là nhà tài chính chính của Tập Đoàn Xăng Dầu Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước. Như vậy, công ty của bà thực chất không phải là một công ty tư nhân độc lập như nó tự nhận.

Thêm vào đó, các lợi ích kinh doanh của Sovico bao gồm thăm dò dầu khí ngoài khơi, tài trợ nhiên liệu hóa thạch và hãng hàng không tư nhân đầu tiên của Việt Nam, điều này đi ngược lại với tôn chỉ của Oxford là kêu gọi tên của các công ty nhiên liệu hóa thạch bị loại bỏ khỏi các tòa nhà và viện đại học.

Người phát ngôn cho biết: “Chúng tôi rất thất vọng khi biết rằng Cao đẳng Linacre đã chấp nhận đóng góp từ nhóm Sovico, một công ty có hoạt động khai thác nhiên liệu hóa thạch đe dọa sự tồn tại của hành tinh chúng ta… Chúng tôi rất buồn khi biết những gì hành động của Linacre đã nói với chúng tôi: rằng Linacre coi trọng tiền bạc hơn con người và hành tinh”.

https://www.theguardian.com/education/2021/nov/03/oxford-college-to-change-its-name-after-155m-donation

Với ba thành tích như trên phải nói rằng chuyến công du Châu Âu của ông thủ tướng Phạm Minh Chính và các thành viên bộ chính trị lần này đã thành công ngoài sự mong đợi…

Thế giới được thấy một trong những chính phủ ăn xin chuyên nghiệp nhất thế giới dẫn theo các tỷ phú Đỏ và những khoản đầu tư lớn ngoài sức tưởng tượng của họ. Một phi vụ đầu tư tương đương với việc dọn đường cho sự tháo chạy của các quan chức cộng sản.

Chính phủ các nước khác cũng được chiêm ngưỡng tận mắt học thuyết cán bộ đảng là đầy tớ của nhân dân, đạo đức cần-kiệm-liêm-chính của Hồ Chí Minh và quyết tâm bài trừ chủ nghĩa tư bản của học thuyết Mác-Lê, được hiện thân ngoài đời thực qua các quan chức xứ Việt cộng như thế nào…

Như vầy mà đảng kêu dân học tập và làm theo tấm gương quan đảng chẳng phải là làm khó người dân dữ lắm sao?

Mà nghe giang hồ đồn là sau chuyến đi này về, các quan chức đảng sẽ bỏ mấy lớp lý luận đảng, đổ xô đi mở lớp “nghệ thuật ăn cắp, ăn vạ, ăn xin” từ cấp địa phương tới trung ương. Các quan chuyên nhập khẩu các thiết bị công nghệ cao sẽ chuyển qua bán “Bị, gậy, dép râu, nón cối”… Đảm bảo mua may bán đắt, dân tình xếp hàng xin học, xin mua đồ nghề còn đông hơn người ta xếp hàng đi tàu Cát Linh-Hà Đông miễn phí nữa…

Dù gì đó cũng là học theo gương quan đảng…, mà cách này coi bộ hiệu quả…

Chứ làm ăn chân chính ở xứ cộng sản thì ngày nào người dân Việt Nam mới được học đại học Oxford hay ăn bò beefstake tư bản đây?

Ráng lên dân Việt Nam ơi…

Tác Giả: Từ Liên.

08/11/2021.

Chính Phủ Việt Nam Đã Hết Tiền? Tác Giả: Từ Liên.

Cũng như nhiều lần trước mỗi lúc lâm nguy, Đảng và chính phủ luôn luôn tuyên truyền và trấn an người dân đừng lo lắng, sợ hãi, dân đừng làm loạn, để Đảng lo cho dân, tài sản của dân để Đảng giữ là an toàn nhất…

Vào khoảng giữa Tháng Chín, năm 2021, khi anh Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Việt Nam đột ngột đăng đàn tuyên bố “Ngân sách nhà nước đã cạn kiệt, không còn đồng nào”,… khiến người dân cả nước hoang mang…

Sau đó, không biết anh Phớc đã dàn xếp lại với các cây trụ gỗ của triều đình như thế nào, nhưng chỉ hai ngày sau khi phát biểu chắc như đinh đóng cột là ngân sách hết tiền, thì những bài đăng lời ảnh lại biến mất khỏi các trang báo Đảng như có bàn tay ma quỷ nào đó chạm vào, báo hại người dân phải đăng lại màn hình chụp những bài báo cũ lên để làm minh chứng là báo Đảng thiệt có cho đăng bài than thở của ảnh…

Anh Phớc lại xuất hiện trên báo Đảng, kêu là người dân hiểu lầm ý của ảnh.

Ảnh chỉ có nói là ngân sách dự phòng [ Chiếm từ 2-4% tổng ngân sách ] đã cạn kiệt mà ảnh đã làm đơn đề nghị lên Quốc Hội, rồi Quốc Hội trình Bộ Chính Trị cũng lâu rồi mà không ai duyệt cho ảnh cả.

Trong khi đại dịch hoành hành cả nước, dân đói khổ kêu than thấu trời đất, mà đụng chỗ nào cũng không có tiền… Mấy ngàn anh bộ đội Cụ Hồ, lính quân y, hậu cần dù đã thả vô cho Sài Gòn nuôi bớt rồi mà vẫn không còn tiền chi cho những nơi khác chống dịch…

Sau cùng, anh Phớc cũng trấn an người dân: Dù có khó khăn do bệnh dịch, nhưng thu ngân sách 8 tháng đầu năm ước đạt hơn 1 triệu tỉ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ năm 2020.

https://laodong.vn/kinh-te/ngan-sach-can-kiet-khong-con-dong-nao-can-hieu-the-nao-moi-chuan-955207.ldo

Rồi sau đó, cũng không ai biết ngân sách dự phòng mà ảnh than đã hết duyệt thêm được bao nhiêu…

Nhưng dân đói khổ, chết vì bệnh viện quá tải, bỏ chạy về quê từ mọi thành phố lớn thì vẫn như bầy ong vỡ tổ, các gói hỗ trợ 1, 2, 3 được ra đời vội vã chồng chéo lên nhau mà không ai biết gói nào xài từ hồi nào, chi cho ai, và xài hết bao nhiêu rồi. Nếu thực sự tổng ba gói đó mà tới được tay người nghèo, người khó khăn, mà cụ thể đây là công nhân và người làm nghề tự do thì nó phải tới gần một trăm tỉ đồng [ Gói 1: 62 ngàn tỉ; Gói 2: 26 ngàn tỉ; Gói 3: không thấy Trung Ương nêu cụ thể, chỉ biết ngoài các gói đó, Sài Gòn đã chi bằng ngân sách riêng hàng chục tỷ đồng cứu trợ người khó khăn ]. Gần trăm ngàn tỉ đồng đó nếu chia cho một phần năm dân số Việt Nam [ chừng 20 triệu người ] là những người thực sự đang gặp khó khăn thôi thì mỗi người cũng phải được tầm 5 triệu đồng, cộng thêm với sự giúp đỡ của cộng đồng thì họ có thể vượt qua mùa dịch tương đối ổn. Nhưng thực trạng mà nhiều người dân phải chịu đựng trong thời gian qua đã cho thấy rằng chính phủ đã không thực sự chi tiền cho các gói hỗ trợ nhiều như họ đã nói trên các phương tiện truyền thông.

Dân tình từ lâu đã đồn rằng Đảng đã hết tiền rồi.

Cũng ở tờ laodong.vn ở trên, anh Phớc nói “Đóng góp lớn vào thu ngân sách là nguồn thu nội địa – và nguồn thu này đang giảm dần qua các tháng do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Cụ thể, thu nội địa trong Tháng Tư là 115.600 tỉ đồng, Tháng Tám, năm 2021 chỉ thu được 63.200 tỉ đồng, tức là gần một nửa”.

Cũng chưa thấy Đảng nói gì tới gói hỗ trợ cho nông dân, cho các doanh nghiệp để khôi phục sản xuất…

Người ta lại càng cảm thấy hoang mang tiếp sau phát biểu bào chữa của anh Phớc… Bởi vì sau đó, các thành viên chính phủ còn đưa ra những thông tin mập mờ gần như xác nhận tình trạng chính phủ đang thiếu tiền là sự thật:

Chẳng hạn như trong một cuộc họp vào giữa Tháng Mười, năm 2021, anh Vương Đình Huệ cũng nói như thăm dò người dân: “hiện tiền trong dân còn khá nhiều, nếu huy động thông qua các ngân hàng sẽ vướng quy định trần cho vay trung, dài hạn”… nên hiện Bộ Tài Chính đang tính toán phát hành thêm công trái thông qua người dân như ngày xưa [ để có thể hạ lãi suất xuống thấp và đẩy kỳ hạn lâu hơn ]… Trong trường hợp cấp bách phải “điều chỉnh chính sách tài khoá, tiền tệ” để phục hồi, tái thiết kinh tế.

https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/quoc-hoi/tien-trong-dan-con-kha-nhieu-lam-sao-de-dan-yen-tam-dau-tu-kinh-doanh-782458.html

Những người đã sanh ra và lớn lên khoảng thập niên 1970 trở lại đây có thể liên hệ những điều anh Huệ nói với rất nhiều những hàm ý rủi ro, chẳng hạn như: Chính phủ đã đem tiền cho các công ty nhà nước và công ty sân sau của các thành viên trong nội các mình đầu tư vào bất động sản và chứng khoán, giờ hầu hết những công ty, tập đoàn này đang trên bờ vực phá sản…; chính phủ đã hết tiền và đang phải huy động lượng tiền trong dân chúng, dù dân không biết ai là người còn tiền sau những đợt dịch tàn phá khủng khiếp này…; chính phủ sẽ phát hành trái phiếu, ép dân phải mua thay vì cho dân gởi tiền tùy chọn trong ngân hàng mà họ muốn… Và điều tồi tệ nhất là chính phủ bắt đầu úp mở về việc “trong hoàn cảnh cấp bách”, chính phủ không còn vay được từ các quỹ tín dụng lớn của thế giới, họ sẽ phải in thêm tiền, điều này sớm muộn sẽ dẫn tới lạm phát và sau đó là chính phủ có lý do hợp lý để tiến hành một chiến dịch đổi tiền…

Chính phủ tỏ ra hiểu người dân khá là sâu sát. Người có nhiều tiền gởi trong ngân hàng thường là thương nhân, quan chức, người làm ăn có những mối quan hệ Đỏ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đa số người dân làm ăn chân chính sẽ chỉ có vừa đủ tiền xài. Họ cũng hiểu Đảng tới độ nếu có dư họ sẽ mang đi mua vàng, mua đô la dự trữ trong nhà, hoặc mua đất đai ở những nơi xa xa phòng bị cho bản thân… rồi sau cùng mà còn dư dả mới đưa tiền cho Đảng giữ giùm kiếm lời.

Đảng cũng biết người dân không tin chính quyền nên mới trữ vàng, đô la trong nhà. Nhưng tiền đó nhiều quá làm Đảng day dứt không yên. Nhiều năm qua Đảng đã nhiều lần hăm he sẽ ép người dân phải đưa cái số đô la, vàng họ tích trữ cho Đảng vay mượn Đảng xài, nhưng kết quả chưa mấy khả thi.

Cụ thể, từ năm 2009, tiến sỹ Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước, cho rằng, nếu người dân tích trữ đô la thì sẽ phải chịu rủi ro cao.

https://cand.com.vn/Kinh-te/Rui-to-khi-tich-tru-do-la-theo-tin-don-i143399/

Năm 2019, Đảng lại nhắc nhở người dân “Tích trữ vàng trong gia đình: Rủi ro lớn, lãng phí nhiều”.

https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/tai-chinh/tich-tru-vang-trong-gia-dinh-rui-ro-lon-lang-phi-nhieu-511576.html

Mà hên là dân mình còn nhiều người sáng suốt, quen tánh Đảng rồi nên không nghe theo hoặc làm ngược lại. Mùa dịch năm nay Đảng kêu người ta đừng có tích trữ hàng hóa, lương thực thực phẩm, Đảng có khả năng cung cấp đủ cho người dân, người dân đừng ra đường, Đảng mang lương thực, thực phẩm tới tận nơi, xét nghiệm tại chỗ cho người bệnh. Kết quả là, người nào làm ngược lời Đảng thì còn sống, người nào nghe đảng coi như rớt xuống thẳng xuống tới địa ngục.

Mới đây, trong trong cuộc họp Thường Vụ Quốc Hội hôm 12/10/2021, anh Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư ( KH&ĐT ) Nguyễn Chí Dũng lại nhắc lại việc giờ phải làm sao để người dân yên tâm bỏ tiền ra đầu tư kinh doanh, chứ không phải tập trung vào nhà cửa, đất đai hay vàng, USD, hay gửi tiết kiệm… Ảnh cũng có nhắc lại chuyện Đảng điều tra ra còn khoảng 500 tấn vàng, tương đương nhiều tỷ USD, của người dân đang nằm “bất động”trong nhà dân là sự lãng phí rất lớn. Coi bộ ý của Đảng là người dân mang tài sản hiện có vào ngân hàng của Đảng gởi lấy tiền lời tháng… rồi người nhà Đảng sẽ in thêm tiền để “mua” những thứ tài sản đó bằng nhiều hình thức khác nhau, “mang” về nhà mình tích trữ… Tới lúc tệ nhất là phải đổi tiền thì người dân phải chịu hết rủi ro, vàng không còn mà đô thì cũng không. Có đòi cũng không biết chỗ nào mà đòi, Đảng không trả thì cũng không ai làm gì được Đảng cả.

http://daidoanket.vn/ban-khoan-viec-huy-dong-vang-trong-dan-5669740.html

Nếu Đảng không thiếu tiền, sao Đảng cứ dòm vào túi nhà dân hoài vậy? Nhìn qua nước người ta dịch bệnh, chính phủ lo cho dân không hết, tiền nợ của dân không dám đòi, mà nước mình dịch bệnh, chính phủ không những không lo mà còn tìm mọi thủ đoạn để vắt kiệt tài sản tích trữ của dân.

Chưa hết, trong khoảng 1 tháng qua, Đảng đẩy mạnh việc bắt các quan tham nhũng nhà Đảng, nhiều trong số đó những ông quan có quyền lực gắn với máu huyết, sự tồn tại của Đảng. Chỉ trong ngày 22/10/2021, thủ tướng ra quyết định cách chức và xóa tư cách một lúc 6 ông tướng là các ông tư lệnh cảnh sát biển mà theo ông là phạm tội “suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Trong suốt lịch sử Việt Nam hiện đại, chắc chưa khi nào mà nhiều tướng bị trảm trong một thời gian chớp nhoáng tới như vậy.

https://vnexpress.net/sau-tuong-canh-sat-bien-bi-cach-chuc-xoa-tu-cach-4376019.html

Ngoài các ông tướng tá quân đội, công an, còn có đại biểu quốc hội, các anh chủ tịch, phó chủ tịch tỉnh, thành phố, giám đốc, phó giám đốc các sở ban ngành, bệnh viện, cũng đã bị bắt hoăc đứng trước nguy cơ bị đưa vào lò của ông Tổng. Kế này dân gian kêu bằng “rút dây động rừng” hay “Rung cây dọa khỉ”… Sau đợt này không biết kho dự trữ quốc gia có giàu thêm không, nhưng đảm bảo đánh động kiểu này, nhiều anh chị đang có nguy cơ trở thành củi sẽ tự mang tài sản tới nhà các quan đảng trước để xin cho họ bảo toàn mạng.

Không ai biết tài sản của những vị tướng này, những quan chức này là bao nhiêu, nhưng chắc chắn số tài sản đó đã đến từ nhiều nguồn bất chính, từ việc bán biển đảo của Việt Nam, bán những tài nguyên dưới lòng biển, cho thuê những bãi biển còn hoang sơ, hủy diệt những ngọn núi hùng vĩ, những cánh rừng phòng hộ, những khu bảo tồn sinh thái ven biển, bán cả an ninh của Việt Nam, hy sinh sức khỏe của người dân, của nền kinh tế, của uy tín trên trường quốc tế của Việt Nam… Chắc chắn nó là những con số lớn tới nỗi người dân bình thường có lẽ không bao giờ thể hình dung ra nổi… Dù gì thì Đảng cũng cần tiền…

Thêm nữa, từ đầu năm 2021 tới giờ, cơ quan Tuyên Giáo của Đảng cũng thả cửa cho Người Đẹp Trường Đua tố cáo chuyện các nghệ sỹ làm từ thiện. Đảng không ra mặt cần tiền nhưng Đảng mượn Người Đẹp tố cáo nghệ sĩ chiếm đoạt hàng chục tỉ tới hàng trăm tỉ đồng rồi Đảng có cớ cho cả Bộ công an vào làm việc với các anh chị này, điều tra thuế, để tìm cách thu hồi và tìm cách dìm hàng các anh chị, để lần sau chỉ có nhà Đảng được độc quyền nhận quyên tiền và phát tiền từ thiện trong dân chúng. Đảng nhẩm tính số tiền này rõ ràng không nhỏ.

Một nghệ sĩ ở tầm cỡ như một ca sĩ ở phân khúc trung bình, mà trong 1 tuần cô huy động được tới trên 100 tỷ Việt Nam đồng, thì người ta không biết những người khác, những nhóm quyên góp khác thu được bao nhiêu.

https://nhadautu.vn/thuy-tien-thong-bao-quyen-gop-duoc-hon-100-ty-dong-chi-sau-1-tuan-d44120.html

Đảng có huy động toàn lực lượng của mình làm việc quyên góp thì cũng không làm gì mà có nổi số tiền này trong vòng 1 tuần, đó là mới có một nghệ sĩ thôi. Nên Đảng có vẻ cay cú lắm. Các nguyên thủ quốc gia, các quan Đảng thì cứ nhắc đi nhắc lại người dân một lòng tin yêu vào Đảng. Có Ban Tuyên Giáo của tỉnh kia còn tự tin tới mức khẳng định “Niềm tin của dân đối với Đảng không hề bị lung lạc bởi lời lẽ xuyên tạc, bịa đặt”. Vậy mà Đảng không hiểu sao người dân người ta kỳ…, đụng tới tiền là người ta né Đảng, người ta ưng đóng góp cho mấy người không phải đảng viên … Có khó khăn gì, họ cũng ưng đi tìm mạnh thường quân trước, chừng nào mạnh thường quân chết đuối vì hết lực, họ mới đi kiếm quan nhà Đảng mà đòi trợ giúp.

Mạnh thường quân giúp họ, lỡ có sai sót gì, bị họ chửi ngược lại cũng phải nghe, không làm gì được họ, chớ gặp Đảng là dân hé miệng ra là chỉ có nước vô tù, còn bị phạt vạ gấp mấy lần số tiền mà họ đi đòi…

Tiền mạnh thường quân đóng cho các quỹ từ thiện, không phải của Đảng thì Đảng bắt người ta đi sao kê, còn tiền thuế của dân đóng cho Đảng là tiền từ túi dân, thì dân không có cách nào bắt Đảng sao kê cho nổi, mà tiền đó là hàng chục ngàn tỉ, hàng trăm ngàn tỉ chớ có ít gì đâu…

Sau đợt càn quét từ tướng lĩnh tới nghệ sĩ gốc lớn này, dân tình đang hóng coi Đảng thu về được bao nhiêu…

Trong những tuần vừa qua khi đất nước vừa mở cửa trở lại, dân tình nào còn tiền để đi rút tiền ngoài cây ATM, cũng hoan hỉ nhận nhiều tờ tiền mới tinh, cứa muốn đứt tay… Kệ, dân mình thích xài tiền mới mà, mới càng thích… Nhà nước in ra vì lí do gì thì kệ người ta, mình có tiền mới mình xài… Còn Đảng thì biện minh, thiếu tiền thì in thêm, lo gì.

Trong khi đó, bất chấp những lời khẳng định không mấy tự tin của Đảng. Các chỉ số cũng của báo Đảng đưa ra lại khẳng định điều ngược lại:

Tính từ đầu năm 2021, Thống Kê Sơ Bộ cho thấy đã có nhiều doanh nghiệp thua lỗ nặng trong quý 2/2021. Tính đến ngày 27/7, trong số hơn 430 doanh nghiệp niêm yết công bố báo cáo kết quả kinh doanh, có một nửa cho biết lợi nhuận giảm, hơn 40 doanh nghiệp lỗ, từ vài tỷ tới cả trăm tỉ, cá biệt có công ty lỗ chưa từng có trong lịch sử niêm yết, nợ phải trả tăng thêm từ vài trăm tỉ tới vài ngàn tỉ. Con số này tiếp tục tăng trong quý 3.

https://vneconomy.vn/he-lo-nhung-doanh-nghiep-dau-tien-bao-lo-quy-2-2021.htm

Có điều lạ là hầu hết các công tư nhân hoặc công ty liên doanh, do chính sách tài tình của Đảng, họ phải tự mình gồng gánh trong đại dich, sản xuất bị đình trệ nên thua lỗ. Nhưng ngay cả những ông lớn được nhà nước tài trợ toàn phần cũng báo lỗ. Khủng khiếp hơn, số vốn nhà nước đầu tư cho các doanh nghiệp này được tính ra là gần 1,6 triệu tỉ đồng, có nguy cơ mất trắng…: Ngoài ra, còn có 11 tổng công ty, tập đoàn nhà nước cũng báo lỗ hàng chục ngàn tỉ.

https://thanhnien.vn/nhieu-ong-lon-nha-nuoc-thua-lo-hang-chuc-ngan-ti-post1392129.html

Chưa hết, báo cáo của Chính phủ gửi các Đại Biểu Quốc Hội ngày 5/10 còn thản nhiên báo cáo kết quả của 12 đại dự án thua lỗ với tổng số nợ chưa tính đầy đủ là 63 nghìn tỷ, không biết bao giờ mới có thể trả hết. Trong đó có những dự án ngàn tỉ không thể sử dụng được, có những dự án chậm tiến độ, có những dự án thi công kém nên không thể sản xuất, bán không ai mua, có những dự án lừa đảo, vướng vào kiện cáo, không giải quyết được.

https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/tai-chinh/12-dai-du-an-thua-lo-no-63-nghin-ty-khong-biet-bao-gio-tra-het-679414.html#inner-article

Đảng lãnh đạo tài giỏi nên không phải doanh nghiệp nhà nước ( DNNN ) chỉ thua lỗ trên sân nhà, mà cũng thua lỗ cả ở các dự án đầu tư ở nước ngoài. Tính đến cuối năm 2020, có tới 46 dự án đầu tư ra nước ngoài của các DNNN báo lỗ, với tổng số lỗ lũy kế các năm lên tới 1,17 tỉ USD. Ngày 18/10/2021, báo Đảng cho biết, 28 dự án đầu tư ra nước ngoài báo lỗ 236,89 triệu USD, tăng 152% so với năm 2019. Đây là các DNNN hoặc có vốn nhà nước thuộc 4 bộ ( Quốc Phòng, Xây Dựng, Công Thương, Y Tế ).

https://thanhnien.vn/hang-chuc-du-an-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-van-lo-tram-trieu-usd-post1392106.html

Theo cái đà này thì không biết Đảng lấy tiền đâu mà chi trả cho những hoạt động của Đảng nhà nước, chính phủ, cũng như nuôi một bộ máy khổng lồ các quan chức của Đảng bao gồm quân đội, an ninh công an, dân phòng, công chức, đảng viên, dư luận viên. Tình hình làm ăn phát đạt như vậy thì Đảng không thiếu tiền mới là chuyện lạ.

Chắc cũng vì vậy mà ngày 24/10/2021. Đảng đã kiên quyết bắt thành phố Sài Gòn phải chia sẻ cái gánh nặng thiếu tiền cho Đảng. Đói khổ, bệnh dịch, kinh tế bị suy sụp, đảng không biết, nhưng đảng nói Sài Gòn trong mấy tháng nữa phải mang nộp đảng tối thiểu 60.000 tỉ tiền thuế. “Chỉ đạo tại buổi làm việc, ông Cao Anh Tuấn – Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Thuế cho rằng, để hoàn thành nhiệm vụ thu năm 2021, trong quý IV, Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh còn phải thu tối thiểu 60.000 tỉ đồng”.

https://vietnamfinance.vn/tong-cuc-truong-cao-anh-tuan-cuc-thue-tp-hcm-phai-thu-toi-thieu-60000-ty-dong-moi-hoan-thanh-nhiem-vu-20180504224260211.htm

Để coi Sài Gòn làm gì để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng chủ Ba Đình đã ra lệnh với giọng điệu không hề khoan nhượng cho thành phố. Không biết dân Sài Gòn còn phải gánh chịu những gì để có đủ tiền nộp cho nhà Đảng.

Giữa lúc tiền ngân sách cạn kiệt, đường sắt Cát Linh–Hà Đông lại tiếp tục trở thành điểm nóng khi đoạn đường sắt 13,5 km do Trung Quốc thi công tuy chưa biết ngày nào mới có thể vận hành nhưng cho tới nay, dự án này đã đội vốn hơn 9.200 tỷ [ 8.770 tỷ lên 18.000 tỷ đồng ]. Dự án được phê duyệt năm 2008 và dự kiến đưa vào sử dụng Tháng Mười Một, năm 2013, nhưng tới nay số phận của tuyến đường này vẫn chưa biết đi đâu về đâu. Tuy nhiên, dưới sức ép của người bạn tốt, Vào Tháng Mười, năm 2021, đến kỳ trả nợ theo các Hiệp định vay, Bộ Tài chính đã phải ứng tiền ra để trả nợ.

Với đà thua lỗ và các khoản nợ đáo hạn ngày càng tăng thêm này dân tình đang hóng coi Đảng lấy đâu ra tiền…

Còn chưa hết, với các biện pháp dập dịch độc đáo nhất thế giới của Đảng trong thời gian qua, toàn bộ nền kinh tế của các trung tâm kinh tế lớn trong cả nước và là nguồn thu thuế quan trọng nhất của Đảng đã gần như đã lung lay. Nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã chuyển sản xuất khỏi Việt Nam, trong 9 tháng đầu năm 2021, có hơn 90.000 doanh nghiệp giải thể.

Trong khi các doanh nghiệp còn đang ngắc ngoải đang chờ được vay vốn của nhà nước để vực dậy kinh doanh, tiền chưa thấy đâu thì thấy ông Phó Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Đào Minh Tú lại lên các phương tiện truyền thông thừa nhận rằng chuỵện cho vay vốn lúc này là rất khó “bản thân các ngân hàng cũng đang ở thế đi trên dây mà nghiêng về bên nào cũng chết”. Thế đi trên dây mà ông Tú nói có nghĩa là: “Nếu nghiêng về chiều hướng cứ mở cửa, cấp vốn cho bất kỳ doanh nghiệp nào tới vay thì sau này không thu hồi được nợ, mất vốn, ai sẽ là người chịu trách nhiệm trả tiền cho người gửi? Dẫn tới mất thanh khoản hệ thống, rối loạn nền kinh tế. Còn nếu nghiêng về phía đóng cửa, quy định vay chặt chẽ, để doanh nghiệp chết hàng loạt thì ngân hàng ‘chơi’ với ai?

Cũng theo ông ta, ngân hàng lâu nay sống bằng lãi suất cho vay, nhưng nếu giảm lãi suất cho doanh nghiệp vay thì cũng phải giảm lãi suất huy động. “Lãi suất huy động quá thấp có thể dẫn tới việc người gửi tiền rút tiền để mua nhà, vàng, ngoại tệ, tạo ra sự bất ổn hệ thống”.

https://cafef.vn/pho-thong-doc-ngan-hang-cung-dang-di-tren-day-20211015082944592.chn

Nói như vậy chẳng khác nào ông này cũng thừa nhận việc cứu vãn nền kinh tế Việt Nam trong thời điểm hiện tại là rất khó khăn…

Tin mừng” khác nữa tới với Đảng là vào ngày 13/10/2021, nhiều tờ báo của Việt Nam đưa tin, ngân hàng thế giới World Bank đã hạ mức tăng trưởng của Việt Nam xuống còn 2%, thấp hơn đáng kể so với dự báo 4,8% công bố hồi Tháng Chín. Trước đó, tờ Nikkei của Nhật Bổn cũng xếp Việt Nam trong danh sách cuối bảng các quốc gia phục hồi sau đại dịch.

Trong năm 2021, chính phủ Việt nam tuyên bố đã phê duyệt quyết định đi vay 75 tỷ đô trong 3 năm tới [ tương đương với 1,74 triệu tỷ Việt Nam đồng ] để trả nợ và chi tiêu cho quốc gia. Năm 2020, theo tính toán của các nhà kinh tế, mỗi người dân Việt Nam đã phải gánh nợ công là xấp xỉ 40 triệu đồng. Con số này chắc chắn sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian sắp tới khi chính phủ không còn khả năng trả nợ, không còn khả năng vay mượn, và cũng không có khả năng vực dậy nền kinh tế trong nước.

Trong nhiều năm qua, cũng như Trung Quốc, chính phủ Việt Nam nhận được nhiều sự trợ giúp từ quốc tế để phục hồi kinh tế sau thời kỳ “Đổi Mới” và “Hội Nhập Quốc Tế”, Việt Nam với nhân công rẻ, số lượng đông, và những quy định kém cỏi về môi trường đã thu hút nhiều nhà đầu tư quốc tế ở phân khúc thấp đến trung bình đến đặt công xưởng tại Việt Nam… Môi trường bị tàn phá, tài nguyên cạn kiệt, nhân công bị bóc lột và có đời sống thấp kém, bấp bênh, nhiều người phải ra nước ngoài làm lao động làm thuê, trong những điều kiện tồi tệ để có ngoại tệ gởi về nước… đó chính là cái giá mà nhiều người Việt Nam phải trả trong những năm qua để Đảng có những con số thống kê đẹp, để Đảng nghĩ là do họ tài giỏi nên đất nước mới phát triển…

Chưa kể tới những tội ác của tập đoàn quan chức cộng sản như tham nhũng, tội làm mất đất đai biển đảo, tội cướp đất đai của dân, sát hại dân lành, tội ngu dân, bần cùng hóa dân, tội làm mất thể diện dân tộc, chỉ nhìn những thống kê ở trên thì người dân tinh mắt nhất cũng khó nhìn ra sự tài tình của Đảng nó nằm ở chỗ nào…

Đảng tài tình nên miền Nam mới từ quốc gia ngang ngửa với những quốc gia phát triển nhất của Châu Á trong thập niên 1960s đã gia nhập nhóm quốc gia kém cỏi bậc nhất trong khu vực Đông Nam Á và cả Châu Á, dựa trên nhiều xếp hạng được thế giới công bố, trong đó có thu nhập đầu người, xếp hạng hộ chiếu, chỉ số cạnh tranh kinh tế, chỉ số minh bạch, chỉ số tự do ngôn luận, tự do Internet.

Trong thời gian sắp tới, dự đoán sẽ có nhiều thứ thuế, phí mới ra đời, sẽ có nhiều loại giá cả hàng hóa thiết yếu được điều chỉnh giá tăng cao… Nhà nước sẽ tìm mọi cách để gom được lượng tiền ngoại tệ, vàng trong dân, từ khuyến khích tới ép buộc.

Thậm chí nguy cơ lạm phát cao và tình huống tệ nhất là đổi tiền cũng đã được nhiều chuyên gia cảnh báo.

Cũng như nhiều lần trước mỗi lúc lâm nguy, Đảng và chính phủ luôn luôn tuyên truyền và trấn an người dân đừng lo lắng, sợ hãi, dân đừng làm loạn, để Đảng lo cho dân, tài sản của dân để Đảng giữ là an toàn nhất…

Nhưng mỗi lần Đảng tăng cường trấn an người dân như vậy, thì hầu như điều ngược lại sẽ xảy ra sau đó không lâu… Điều người dân nhận được dù rất muộn màng chỉ là một vài lời xin lỗi của một vài quan Đảng đã về hưu, còn bản thân họ thì trắng tay…

Cũng không cần phải nhìn quá sâu vào lịch sử của từ những năm 1970s, quan sát những gì chỉ vừa diễn ra trong và sau đại dịch vừa qua, và để tâm vào những ẩn ý của các quan chức nhà đảng tiết lộ trên những bài báo trong thời gian gần đây, người dân có thể đoán định được phần nào những đòn chính phủ Việt cộng sẽ chuẩn bị để giáng xuống đầu con dân nước Việt. Nếu có phải hy sinh điều gì cho quyền lực, danh lợi của mình, thường dân Việt Nam sẽ là những vật bị Đảng hy sinh đầu tiên.

Hy vọng mỗi người dân Việt Nam sẽ sáng suốt tìm ra những cách tốt nhất để bảo vệ mình và gia đình trong thời gian tới…

Tác Giả: Từ Liên.

Thời Kỳ Trỗi Dậy Của Trung Quốc Đã Kết Thúc.

Trung Quốc là một cường quốc đã trỗi dậy, không phải là một cường quốc đang trỗi dậy: nước này đã có được những khả năng địa chính trị đáng gờm, nhưng những ngày tháng tốt đẹp nhất đã lùi xa lại ở phía sau nó.

Bắc Kinh Đã Sắp Hết Thời Gian Để Tái Định Hình Lại Thế Giới.

Tác Giả: Michael Beckley and Hal Brands.

Người Dịch: Từ Liên.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/china/2021-10-01/end-chinas-rise

Đã từng có một sự đồng thuận phổ biến, ở Washington và ở nước ngoài, là Trung Quốc đang vượt qua Hoa Kỳ. Tổng Thống Joe Biden cũng đã từng nói, “Nếu chúng ta không làm gì để thay đổi… họ sẽ lấy cả bữa trưa của chúng ta.” Còn theo lời của một nhà ngoại giao Châu Á, các quốc gia ở khắp mọi nơi đã và đang chuẩn bị cho việc Trung Quốc sẽ trở thành “số một” của thế giới.

Đã có nhiều bằng chứng ủng hộ cho quan điểm này. GDP ( Tổng Sản Lượng Quốc Gia ) của Trung Quốc đã tăng gấp 40 lần kể từ năm 1978. Trung Quốc đã khoe khoang rằng họ có dự trữ tài chính, thặng dư thương mại, nền kinh tế được đo bằng sức mua tương đương, và hải quân có nhiều chiến hạm nhất trên thế giới.

Trong khi Hoa Kỳ quay cuồng với một cuộc rút lui đáng xấu hổ khỏi Afghanistan, Trung Quốc đang tích cực tiến tới xây dựng vai trò của mình là Trung Tâm của Châu Á, và có thể thay thế Washington để đứng đầu hệ thống thứ bậc toàn cầu.

Nhưng nếu như Bắc Kinh có vẻ nôn nóng, thì đó là bởi vì khả năng trỗi dậy của họ đã đi đến hồi kết. Quá trình đi lên của Trung Quốc được hỗ trợ bởi những luồng gió mạnh mà giờ đây đã trở thành những cơn gió ngược.

Chính phủ Trung Quốc đang che giấu sự suy giảm kinh tế nghiêm trọng và quay trở lại chủ nghĩa toàn trị mong manh. Đất nước này đang bị khan hiếm tài nguyên trầm trọng và phải đối mặt với sự thất bại về nhân khẩu học ở thời bình tồi tệ nhất trong lịch sử. Không kém phần quan trọng, Trung Quốc đang mất quyền tiếp cận với sự hoan nghênh của thế giới mà đã tạo điều kiện cho họ tiến lên trong nhiều năm.

Ở thời đại “Trung Quốc đỉnh cao”. Bắc Kinh đã đại diện cho một cường quốc theo chủ nghĩa xét lại mạnh mẽ mà đã có tham vọng muốn tái tạo thế giới, nhưng thời gian để thực hiện điều đó đã không còn nhiều. Nhận thức này đã không khiến Washington tự mãn — mà ngược lại. Có một nỗi lo ngại rằng, các cường quốc đã có một thời trỗi dậy, thường có khuynh hướng trở nên hung hăng khi vận may của họ suy giảm, và kẻ thù của họ ngày càng nhiều hơn. Trung Quốc đang lần theo một vòng cung như vậy, mà thường kết thúc trong một bi kịch: sự trỗi dậy một cách chóng mặt và sau đó là bóng ma của một sự sụp đổ tang thương.

LÀM NÊN ĐIỀU KỲ DIỆU

Trung Quốc đã trỗi dậy trong một thời gian dài đến nỗi nhiều nhà quan sát cho rằng sự tiếp tục đi lên của nó là điều không thể tránh khỏi. Trên thực tế, hòa bình và thịnh vượng trong vài thập kỷ qua là một điều dị thường trong lịch sử của họ, đã chỉ được tạo ra bởi một số xu hướng chỉ mang tính chất thoáng qua.

Trước tiên là, trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã được hưởng một môi trường địa chính trị an toàn và quan hệ hữu nghị với Hoa Kỳ. Trong phần lớn lịch sử hiện đại của họ, vị trí dễ bị tổn thương của Trung Quốc tại khu vực bản lề của lục địa Âu-Á và Thái Bình Dương đã khiến nước này phải đối mặt với xung đột và khó khăn. Từ cuộc Chiến Tranh Nha Phiến lần thứ nhất vào năm 1839 cho đến khi kết thúc cuộc Nội Chiến Trung Quốc năm 1949, các thế lực đế quốc đã chia cắt đất nước. Sau khi Trung Quốc thống nhất dưới sự cai trị của chủ nghĩa cộng sản vào năm 1949, nó lại phải đối mặt với sự thù địch cực độ của Hoa Kỳ. Bắc Kinh đã phải hứng chịu sự thù hằn của cả hai siêu cường sau khi liên minh Xô-Trung sụp đổ vào những năm 1960. Bị cô lập và bị bao vây, Trung Quốc chìm trong đói nghèo và xung đột.

Việc mở cửa đến Hoa Kỳ vào năm 1971 đã phá vỡ khuôn mẫu này. Bắc Kinh bất ngờ có một đồng minh siêu cường. Washington đã cảnh báo Moscow không tấn công Trung Quốc, và họ đã tạo điều kiện thuận lợi cho Bắc Kinh hội nhập với thế giới rộng lớn. Vào giữa những năm 1970, Trung Quốc đã trở thành một quốc gia được an toàn hơn trong lục địa, và có khả năng tiếp cận thị trường và vốn nước ngoài — và thời điểm của nó thật là hoàn hảo. Thương mại thế giới đã tăng gấp sáu lần từ năm 1970 đến năm 2007. Trung Quốc đã bắt kịp đà toàn cầu hóa và trở thành công xưởng của thế giới.

Nếu Bắc Kinh có vẻ như đang vội vàng, đó là bởi vì cơ hội để trỗi dậy của họ đã gần kết thúc.

Trung Quốc đã có thể làm được như vậy chủ yếu là bởi vì chính phủ Trung Quốc đã cam kết cải cách. Sau khi Mao Trạch Đông qua đời vào năm 1976, Đảng Cộng Sản Trung Quốc ( ĐCSTQ ) đã đặt ra các giới hạn nhiệm kỳ và các biện pháp giám sát khác đối với các lãnh đạo cao nhất của mình. Nó bắt đầu khen thưởng cho năng lực kỹ trị và hiệu quả kinh tế tốt. Các cộng đồng nông thôn được phép thành lập các doanh nghiệp với luật lệ thông thoáng hơn. Các đặc khu kinh tế được mở rộng trên cả nước và cho phép các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tự do. Để chuẩn bị gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới vào năm 2001, Bắc Kinh đã áp dụng các hệ thống pháp luật và thu thuế hiện đại. Trung Quốc đã có một gói chính sách phù hợp để phát triển mạnh mẽ trong một thế giới mở.

Trung Quốc cũng có một dân số phù hợp cho sự thay đổi của mình. Nó đã trải qua sự biến động nhân khẩu lớn nhất trong lịch sử hiện đại. Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ này, cứ mỗi người cao tuổi thì có 10 người trong độ tuổi lao động. Trong khi mức trung bình đối với hầu hết các nền kinh tế lớn chỉ là gần 5 người trong độ tuổi lao động.

Lợi thế nhân khẩu học đó là kết quả ngẫu nhiên của những biến động chính sách có phần dã man. Trong những năm 1950 và 1960, ĐCSTQ khuyến khích sinh nhiều con hơn để bù đấp dân số bị chết chóc bởi chiến tranh và nạn đói. Dân số Trung Quốc đã tăng 80 phần trăm chỉ trong 30 năm. Nhưng vào cuối những năm 1970, Bắc Kinh đã siết cái phanh lại, giới hạn mỗi gia đình chỉ được phép có một con. Kết quả là, trong những năm 1990 và những năm đầu của thế kỷ này, Trung Quốc có một lực lượng lao động khổng lồ với tương đối ít người già hoặc trẻ em để chăm sóc. Chưa từng có dân số nào lại sẵn sàng cho việc tăng năng suất lao động tốt hơn như thế nữa.

Trung Quốc không cần nhiều sự trợ giúp từ bên ngoài để cung cấp thực phẩm và nước ( gia dụng, nông nghiệp ) cho người dân, và các ngành công nghiệp của họ còn đang ở mức chỉ sử dụng hầu hết các nguyên liệu thô. Họ có thể tiếp cận dễ dàng với các nguồn tài nguyên này, cộng với lao động rẻ và các biện pháp bảo vệ môi trường yếu kém đã khiến Trung Quốc trở thành một cường quốc công nghiệp.

SỰ ĐẢO NGƯỢC CỦA VẬN MAY

Nhưng tình huống tạo ra một sự gia tăng đột biến của cải, vận may, lợi nhuận kiểu “ngàn năm có một” như vậy không tồn tại mãi mãi. Trong thập kỷ qua, những lợi thế từng giúp đất nước tăng vọt nay đã trở thành những khoản nợ đến hạn phải trả kéo quốc gia này đi xuống.

Trước tiên, Trung Quốc đang cạn kiệt các nguồn lực của họ. Một nửa số con sông của đất nước đã biến mất và ô nhiễm đã khiến 60% lượng nước ngầm của nó – theo sự thừa nhận của chính phủ – “không thích hợp để con người tiếp xúc”. Sự phát triển đột phá đã khiến nó trở thành quốc gia nhập khẩu năng lượng ròng lớn nhất thế giới. An ninh lương thực đang xấu đi: Trung Quốc đã phá hủy 40% diện tích đất canh tác do khai thác quá mức và giờ đây họ trở thành quốc gia nhập khẩu nông sản lớn nhất thế giới. Một phần là do tài nguyên bắt đầu khan hiếm, việc tăng trưởng đang trở nên rất tốn kém: Trung Quốc phải đầu tư nhiều gấp ba lần để tạo ra được mức tăng trưởng bằng với với những năm đầu của thế kỷ này, một mức tăng lớn hơn nhiều so với mức người ta có thể mong đợi ở bất kỳ nền kinh tế nào đã đạt đến độ trưởng thành.

Trung Quốc cũng đang dần cạn kiệt nguồn nhân lực do hậu quả di căn của chính sách một con. Từ năm 2020 đến năm 2035, Trung Quốc sẽ mất khoảng 70 triệu người trong độ tuổi lao động và có thêm 130 triệu người cao tuổi. Đó là lượng người tiêu thụ, người đóng thuế và người lao động bằng với dân số của nước Pháp sẽ biến mất — và lượng người hưu trí có quy mô ngang bằng với dân số Nhật Bản hiện tại, sẽ tăng thêm — trong 15 năm. Từ năm 2035 đến năm 2050, Trung Quốc sẽ mất thêm 105 triệu lao động và có thêm 64 triệu người già. Hậu quả kinh tế sẽ rất thảm khốc. Các dự báo hiện tại cho thấy chi tiêu có liên quan đến vấn đề tuổi tác phải tăng gấp ba lần vào năm 2050, từ 10% lên 30% GDP. Trong khi đó, tất cả chi tiêu chính phủ của Trung Quốc hiện tại chiếm khoảng 30% GDP.

Đối phó với những vấn đề này sẽ đặc biệt khó khăn vì Trung Quốc hiện được cai trị bởi một nhà độc tài luôn sẵn sàng hy sinh hiệu quả kinh tế cho quyền lực chính trị. Các công ty tư nhân tạo ra phần lớn tài sản của đất nước, nhưng dưới thời Chủ Tịch Tập Cận Bình, các công ty tư nhân luôn trong tình trạng bị thiếu vốn. Thay vào đó, các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả nhận được 80% các khoản vay và trợ cấp của chính phủ. Sự bùng nổ của Trung Quốc được dẫn dắt bởi các doanh nhân địa phương, nhưng chiến dịch chống tham nhũng của ông Tập đã khiến các nhà lãnh đạo địa phương sợ hãi khi tham gia vào thử nghiệm kinh tế. Chính phủ của ông về cơ bản đã đặt ra ngoài vòng pháp luật các tin tức kinh tế tiêu cực, khiến cho những cải cách thông minh gần như không thể thực hiện được, trong khi một làn sóng các quy định do chính trị thúc đẩy đã bóp chết sự đổi mới.

Khi Trung Quốc ngày càng trở nên quyết đoán và độc tài hơn, thế giới lại càng trở nên ít có lợi hơn cho sự phát triển của Trung Quốc. Bắc Kinh đã phải đối mặt với hàng ngàn rào cản thương mại mới kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Hầu hết các nền kinh tế lớn nhất thế giới đang ngăn các mạng viễn thông của họ khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc. Úc, Ấn Độ, Nhật Bản và các quốc gia khác đang tìm cách loại bỏ Trung Quốc khỏi chuỗi cung ứng của họ.

VŨNG LẦY KINH TẾ

Với việc kết thúc kỳ nghỉ đã kéo dài 4 thập kỷ trong lịch sử, Trung Quốc hiện phải đối mặt với hai xu hướng – tăng trưởng chậm lại và bị bao vây chiến lược – đã đánh dấu việc chấm dứt của thời kỳ trỗi dậy.

Do những vấn đề tích tụ lại qua thời gian của nó, nền kinh tế Trung Quốc đã bước vào giai đoạn suy thoái kéo dài nhất trong thời kỳ hậu Mao. Tốc độ tăng trưởng GDP chính thức của Trung Quốc giảm từ 15% năm 2007 xuống còn 6% vào năm 2019, trước khi COVID-19 kéo tăng trưởng xuống hơn 2% một chút vào năm 2020. Nhưng ngay cả những con số đó cũng có thể đã bị phóng đại: Các nghiên cứu kỹ lưỡng cho thấy tốc độ tăng trưởng thực tế của Trung Quốc có thể chỉ thấp bằng một nửa con số do chính phủ công bố.

Tệ hơn nữa, phần lớn tăng trưởng GDP của Trung Quốc kể từ năm 2008 đến từ việc chính phủ cung cấp vốn cho nền kinh tế. Trừ chi tiêu mang tính kích thích, nền kinh tế Trung Quốc hầu như không tăng trưởng. Năng suất, thành phần quan trọng để tạo ra của cải, đã giảm 10% từ năm 2010 đến năm 2019 – mức sụt giảm tồi tệ nhất ở một cường quốc kể từ thời Liên Bang Xô Viết vào những năm 1980.

Trong thập kỷ qua, những lợi thế từng giúp Trung Quốc tăng trưởng ngoạn mục nay đã trở thành những khoản nợ phải trả và đang kéo nước này đi xuống.

Các dấu hiệu của sự tăng trưởng không hiệu quả này có thể được nhìn thấy ở khắp mọi nơi. Trung Quốc có hơn 50 thành phố ma – những trung tâm đô thị với đường cao tốc và nhà cửa nhưng không có người ở. Gần 2/3 các dự án cơ sở hạ tầng của Trung Quốc sẽ không bao giờ bù đắp được chi phí xây dựng của chúng. Kết quả, không có gì đáng ngạc nhiên, là nợ của Trung Quốc đã dần vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Tổng nợ của Trung Quốc đã tăng gấp tám lần từ năm 2008 đến năm 2019. Chúng ta biết câu chuyện này kết thúc như thế nào: với các bong bóng do các khoản đầu tư dẫn dắt sụp đổ thành những đợt sụt giảm kéo dài. Tại Nhật Bản, việc cho vay quá mức đã dẫn đến việc mất đi ba thập kỷ mà tăng trưởng chỉ ở mức không đáng kể. Tại Hoa Kỳ, nó đã gây ra cuộc Đại Suy Thoái. Với quy mô của núi nợ của Trung Quốc, sự suy thoái của nó có thể còn tồi tệ hơn. Những vấn đề mà nhà phát triển bất động sản Trung Quốc hiện đang gặp phải như Evergrande đang rơi vào cảnh mắc nợ hàng loạt, có thể chỉ đơn giản là dấu hiệu của những điều sắp xảy ra.

Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã không thừa nhận thất bại: Ông Tập vẫn hy vọng sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh chóng thông qua đổi mới công nghệ và chi tiêu cho R&D ( Research and Development tức Nghiên Cứu và Phát Triển ) đã tăng gấp ba lần kể từ năm 2006. Tuy nhiên, những nỗ lực này đã không thúc đẩy được năng suất và Trung Quốc vẫn chỉ đang chiếm thị phần nhỏ trên thị trường toàn cầu ở hầu hết các ngành công nghệ cao nhất. Lý do chính là hệ thống R&D từ trên xuống của Trung Quốc, mặc dù rất xuất sắc trong việc huy động nguồn lực, nhưng lại ngăn dòng thông tin mở và nguồn vốn cần thiết cho sự đổi mới bền vững. Đàn áp chính trị vẫn đang diễn ra, và những cách thức tưởng thưởng khuyến khích các trí thức vâng lời, sẽ càng làm phức tạp thêm vấn đề.

Thí dụ, Bắc Kinh đã đầu tư nhiều chục tỷ đô la vào ngành công nghiệp vi mạch ( microchip ) nội địa, tuy nhiên họ vẫn phải nhập cảng 80 phần trăm cho nhu cầu của điện toán quốc gia. Trung Quốc cũng đã đầu tư nhiều chục tỷ đô la vào ngành công nghệ sinh học, vậy mà vaccine COVID-19 của họ vẫn không thể cạnh tranh với các loại vaccines của các quốc gia dân chủ. Cải cách sẽ không cứu Trung Quốc khỏi sự suy thoái. Và sự suy sụp này sẽ khiến hệ thống hiện tại bị lung lay, khi một mối đe dọa khác – sự bao vây chiến lược từ các quốc gia khác – ngày càng trở nên hiện hữu.

CÁI VÒNG LỬA

Khu vực Á – Âu thường được coi là tử địa cho những kẻ bá quyền đầy tham vọng: có quá nhiều kẻ thù xung quanh có thể tạo ra mối đe dọa an ninh giống nhau đối với các siêu cường lục địa. Trong gần 40 năm, một Trung Quốc đang trỗi dậy đã tránh khỏi sự bao vây chiến lược bằng cách hạ thấp tham vọng toàn cầu và duy trì quan hệ hữu nghị với Hoa Kỳ. Nhưng thời kỳ đó đã qua. Khi Bắc Kinh trở nên hung hăng hơn ở Biển Đông, eo biển Đài Loan và các nơi khác, nó đã gây ra sự thù địch gần như ở khắp nơi.

Trong năm năm qua, Hoa Kỳ đã từ bỏ các giao kết và áp dụng chính sách be bờ kiểu mới. Washington đã tiến hành mở rộng hải quân và hỏa tiển lớn nhất trong một thế hệ, áp đặt thuế quan mạnh mẽ nhất kể từ Thế Chiến Thứ Hai, và thực hiện các hạn chế chặt chẽ nhất đối với đầu tư nước ngoài kể từ Chiến Tranh Lạnh – tất cả đều nhắm vào Trung Quốc. Doanh số bán vũ khí và hỗ trợ quân sự cho các quốc gia nằm ở khu vực “tiền tuyến” đã tăng lên; các lệnh trừng phạt công nghệ của Hoa Kỳ đang đe dọa tiêu diệt Huawei và các công ty Trung Quốc khác. Vào năm 2021, Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc phàn nàn rằng “một chiến dịch của toàn bộ các chính phủ và toàn bộ các xã hội đang được tiến hành để hạ gục Trung Quốc”.

Tập Cận Bình sẽ tự hỏi liệu ông ta có thể thực hiện những cam kết vĩ đại của mình hay không. Và đó là lúc thế giới sẽ thực sự phải lo lắng.

Việc Hoa Kỳ quay lưng lại với Trung Quốc đã góp phần gây ra phản ứng dữ dội hơn đối với sức mạnh của Bắc Kinh. Ở Đông Bắc Á, Đài Loan trở nên quyết tâm hơn bao giờ hết trong việc duy trì nền độc lập trên thực tế của mình, và chính phủ đã thông qua một chiến lược phòng thủ mới táo bạo có thể khiến hòn đảo này trở nên cực kỳ khó bị xâm chiếm. Nhật Bản đã đồng ý hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ để chống lại sự xâm lược của Trung Quốc trong khu vực. Thông qua sự hiếu chiến của mình, Bắc Kinh đã tạo cho liên minh Mỹ-Nhật một lực lượng chống Trung Quốc rõ ràng.

Các quốc gia xung quanh Biển Đông cũng đang bắt đầu chống lại Trung Quốc. Việt Nam đang mua các hỏa tiễn cơ động phòng thủ duyên hải, tàu ngầm tấn công của Nga, máy bay chiến đấu mới và chiến hạm trang bị hỏa tiễn hành trình loại mới. Singapore đã lặng lẽ trở thành một đối tác quân sự quan trọng của Hoa Kỳ. Indonesia đã tăng chi tiêu quốc phòng 20% vào năm 2020 và tăng lên 21% vào năm 2021. Ngay cả Philippines, quốc gia đã đi theo đuôi Trung Quốc trong phần lớn nhiệm kỳ của Tổng Thống Rodrigo Duterte, hiện đang nhắc lại các tuyên bố chủ quyền của mình ở Biển Đông và tăng cường các cuộc tuần tra trên không và trên biển.

Tham vọng của Trung Quốc cũng đang gây ra phản ứng vượt ra ngoài khu vực Đông Á, từ Úc, Ấn Độ đến Châu Âu. Ở bất cứ nơi nào Bắc Kinh đang tiến tới, một loạt các đối thủ ngày càng tăng về số lượng cũng đang hợp tác để đẩy lùi Trung Quốc. Đối thoại An Ninh Tứ Giác — một quan hệ đối tác chiến lược bao gồm Úc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hoa Kỳ — đã nổi lên như một tâm điểm của hợp tác chống Trung Quốc giữa các nền dân chủ mạnh nhất ở Ấn Độ-Thái Bình Dương. Liên minh AUKUS mới ( Úc – Vương quốc Anh – Hoa Kỳ ) hợp nhất những “hạt nhân” của các quốc gia có nguồn gốc Anglo nhằm chống lại Bắc Kinh.

Hoa Kỳ đang xây dựng các liên minh nhỏ chồng chéo nhau để đảm bảo rằng các nền dân chủ tiên tiến luôn dẫn đầu trong các công nghệ quan trọng, trong khi đó, G-7 và NATO cũng đang đưa ra các lập trường cứng rắn hơn đối với Đài Loan và các vấn đề khác. Chắc chắn, hợp tác chống Trung Quốc vẫn còn nhiều vấn đề đang phải giải quyết, vì nhiều nước vẫn đang dựa vào thương mại với Bắc Kinh. Nhưng những quan hệ đối tác đan xen này cuối cùng có thể tạo thành một cái thòng lọng vòng quanh cổ Bắc Kinh.

BÙNG CHÁY

Trung Quốc là một cường quốc đã trỗi dậy, không phải là một cường quốc đang trỗi dậy: nước này đã có được những khả năng địa chính trị đáng gờm, nhưng những ngày tháng tốt đẹp nhất đã lùi xa lại ở phía sau nó. Sự khác biệt đó rất quan trọng, bởi vì Trung Quốc đã đặt ra những tham vọng lớn và bây giờ có thể nó không thể đạt được chúng nếu không có hành động quyết liệt. ĐCSTQ đặt mục tiêu giành lại Đài Loan, thống trị tây Thái Bình Dương và lan rộng ảnh hưởng của mình trên toàn cầu. Ông Tập đã tuyên bố rằng Trung Quốc tìm kiếm một “tương lai nơi chúng tôi sẽ giành được thế chủ động và có vị trí thống trị”. Tuy nhiên, giấc mơ đó đang bắt đầu biến mất, khi tốc độ tăng trưởng của nó đã chậm lại và Trung Quốc phải đối mặt với một thế giới ngày càng thù địch với họ.

Đó có vẻ là tin tốt cho Washington: khả năng Trung Quốc dễ dàng vượt qua Mỹ rất thấp. Nhưng điều đó cũng không làm cho chúng ta hoàn toàn yên tâm. Khi các vấn đề của Trung Quốc tiếp diễn, tương lai sẽ có vẻ đe dọa đối với Bắc Kinh. Bóng ma của sự trì trệ sẽ ám ảnh các quan chức ĐCSTQ. Tập Cận Bình sẽ tự hỏi liệu ông ta có thể thực hiện những cam kết vĩ đại của mình hay không. Và đó là lúc thế giới sẽ thực sự phải lo lắng.

Các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đã quyết tâm phải hành động thật nhanh vì họ không còn nhiều thời gian.

Các cường quốc theo chủ nghĩa xét lại có xu hướng trở nên nguy hiểm nhất khi khoảng cách giữa tham vọng và năng lực của họ bắt đầu trở nên không thể kiểm soát được. Khi cửa sổ chiến lược của một cường quốc đang trong cơn thất vọng bắt đầu đóng lại, ngay cả một nỗ lực chiến thắng có xác suất thấp cũng có vẻ tốt hơn là một sự hạ bệ nhục nhã. Khi các nhà lãnh đạo độc tài lo lắng rằng sự suy giảm địa chính trị sẽ phá hủy tính hợp pháp chính trị của họ, thì sự tuyệt vọng thường xảy ra sau đó. Ví dụ, Đức tiến hành Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất để ngăn chặn khát vọng bá quyền của mình bị nghiền nát bởi phe Hiệp Ước Anh-Nga-Pháp; Nhật Bản bắt đầu Thế Chiến Thứ Hai ở Châu Á để ngăn chặn Hoa Kỳ bóp nghẹt đế chế của mình.

Trung Quốc ngày nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề đáng lo ngại. Tăng trưởng chậm lại? Đang bị. Bị bao vây chiến lược? Đang bị. Chế độ độc tài tàn bạo với một số ít nguồn mang tính hợp pháp tự nhiên? Chính xác. Uất hận lịch sử và tham vọng bành trướng lãnh thổ? Đúng và đúng. Trên thực tế, Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động — không ngừng xây dựng quân đội, tìm kiếm các phạm vi ảnh hưởng ở Châu Á và hơn thế nữa, nỗ lực kiểm soát các công nghệ và tài nguyên quan trọng — hành xử đương nhiên của một quốc gia ở vị thế như Trung Quốc. Nếu có một công thức gây hấn của một cường quốc đỉnh cao, thì Trung Quốc đã thể hiện những yếu tố then chốt.

Nhiều nhà quan sát tin rằng Trung Quốc đang phân tán sức mạnh của họ ra nhiều nơi, vì họ rất tự tin vào sự tiếp tục hùng mạnh của mình. Ông Tập chắc chắn nghĩ rằng COVID-19 và sự bất ổn chính trị ở Hoa Kỳ đã tạo ra những khả năng mới để tiến tới. Nhưng khả năng xảy ra nhiều hơn – và đáng sợ hơn nhiều – là các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã quyết tâm hành động nhanh vì họ hiểu rằng họ sắp hết thời gian. Điều gì sẽ xảy ra khi một quốc gia muốn định hình lại thế giới lại đi tới kết luận rằng họ không có khả năng thực hiện điều đó một cách hòa bình? Xét về cả lịch sử và hành vi hiện tại của Trung Quốc đều cho thấy câu trả lời là: Không có gì tốt đẹp từ Trung Quốc dành cho thế giới trong tương lai cả.

Người Dịch: Từ Liên.

MICHAEL BECKLEY là Giáo Sư Dự Phòng ( Associate Professor ) ngành Khoa Học Chính Trị tại Đại Học Tufts, bang Massachusetts; và ông cũng là Giảng Sư Thỉnh Giảng Jeane Kirkpatrick của American Enterprise Institute ( Học Viện Kinh Doanh Hoa Kỳ ).

HAL BRANDS là Giáo Sư Xuất Sắc của Trung Tâm Thời Sự Hoàn Cầu Henry A. Kissinger tại Đại Học Johns Hopkins ngành Quốc Tế Học Cao Cấp và cũng là Giảng Sư Thâm Niên của American Enterprise Institute ( Học Viện Kinh Doanh Hoa Kỳ ).